1. Kế toán quản trị là gì?

Theo giáo trình kế toán quản trị (KTQT) của Đại học Kinh tế quốc dân năm 2014 do PGS,TS Nguyễn Năng Phúc chủ biên thì “Kế toán quản trị là một công cụ chuyên ngành kế toán nhằm thực hiện quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp và truyền đạt các thông tin hữu ích, giúp cho quản trị doanh nghiệp thực hiện tốt các chức năng lập kế hoạch, kiểm tra, đánh giá và ra các quyết định trong quản lý”, tức là KTQT là một bộ phận không thể tách rời hệ thông kế toán doanh nghiệp và việc thu thập, xử lý, thiết kế thông tin của KTQT phải xuất phát từ yêu cầu của từng đối tượng quản trị khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp. KTQT ra đời là do nhu cầu ngày càng cao về số lượng cũng như chất lượng thông tin nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nền kinh tế ngày càng phát triển.

2. Nội dung của kế toán quản trị

Từ những trình bày và phân tích trên tác giả cho rằng bản chất của KTQT sẽ bao gồm các nội dung:

+ KTQT là một trong những hệ thống thông tin cần thiết của doanh nghiệp, những thông tin này được lượng hóa, định lượng về các hoạt động của doanh nghiệp;

+ KTQT nằm trong chuỗi quản lý doanh nghiệp, xuyên suốt quá trình quản lý từ khâu lập kế hoạch, triển khai thực hiện đến khâu kiểm tra, kiểm soát và đánh giá;

+ KTQT cung cấp các thông tin chủ yếu cho những nhà quản lý doanh nghiệp nhằm phục vụ cho việc ra các quyết định kinh tế, tài chính kịp thời điều hành các hoạt động của doanh nghiệp một cách tốt nhất;

+ Thu thập và cung cấp thông tin KTQT mang tính linh hoạt, không bắt buộc và chưa có giá trị pháp lý;

+ Thông tin KTQT là một trong những bộ phận của hệ thống thông tin kế toán của doanh nghiệp, thông tin kế toán của doanh nghiệp sẽ toàn diện khi có cả thông tin KTQT và thông tin KTTC;

+ Kế toán quản trị tạo ra giá trị và đảm bảo các vấn đề thành công cơ bản bởi việc đóng góp trong quá trình ra quyết định thông qua phân tích các thông tin đại diện và cung cấp thông tin đó để có thể giúp tổ chức trong quá trình lập kế hoạch, thực hiện, kiểm soát các chiến lược thực hiện;

+ Vận dụng KTQT trong doanh nghiệp rất đa dạng và linh hoạt, phù hợp với từng cấp quản lý, mục tiêu quản lý và nhu cầu thông tin để đưa ra các quyết định;

+ KTQT là quá trình hoàn thiện không ngừng và gia tăng giá trị các hoạt động lập kế hoạch, xây dựng, đánh giá và triển khai các thông tin tài chính và phi tài chính nhằm định hướng các hành động quản trị, tạo động lực, hỗ trợ và tạo ra giá trị văn hoá cần thiết để đạt được những mục tiêu chiến lược, chiến thuật và hoạt động của doanh nghiệp.

Tuy nhiên khi tiếp cận ở góc độ KTQTCP lại thấy nhiều tác giả nhìn nhận dưới góc độ là KTCP. Thực chất KTCP là một bộ phận cấu thành trong nội dung của KTTC và KTQT, KTCP trọng tâm vào việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin về chi phí nhằm phục vụ cho việc lập dự toán cho kỳ kế hoạch, kiểm soát và đánh giá chi phí phát sinh ở kỳ thực hiện.

Theo tài liệu Charles T. Horngren; Srikant M.Datar(2013) “Cost Accounting: a Managerial Emphasis” “Kế toán chi phí là một kỹ thuật hay phương pháp để xác định chi phí cho một dự án, một quá trình hoặc một sản phẩm … chi phí này được xác định bằng việc đo lường trực tiếp, kết chuyển  hoặc phân bổ của nhà quản trị một cách có hệ thống và hợp lý” 

Theo Michael R. Kinney, Cecily A. Raiborn “Kế toán chi phí bao gồm một phần của kế toán tài chính và kế toán quản trị. Kế toán chi phí cung cấp thông tin đáp ứng nhu cầu người sử dụng ở bên trong và bên ngoài doanh nghiệp”.

Từ các quan điểm trên đều nhận thấy, KTCP là một bộ phận, một phân hệ của hệ thống kế toán. Kế toán chi phí không phải là một bộ phận độc lập, tách rời mà là một phần trong nội dung của KTTC và KTQT. Hay nói một cách khác là KTCP là một phần giao thoa giữa KTTC và KTQT. Dưới góc độ của KTTC thì KTCP thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về chi phí phát sinh trong đơn vị theo đúng các nguyên tắc và chế độ kế toán để cung cấp cho các đối tượng bên trong và bên ngoài sử dụng. Dưới góc độ KTQT thì KTCP thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin về chi phí cho từng hoạt động để phục vụ cho nhà quản trị các cấp của đơn vị lập kế hoạch, chỉ đạo, kiểm soát và đánh giá hoạt động giúp nhà quản trị ra được các quyết định đúng đắn, kịp thời.

3. Kế toán quản trị chi phí là gì?

Kế toán chi phí nói chung, KTQTCP nói riêng là một bộ phận của hệ thống kế toán. Ở nhiều nước KTCP được tách ra thành một lĩnh vực quan trọng và được giảng dạy thành một học phần riêng trong chương trình đào tạo dành cho sinh viên ngành kế toán.

Theo Viện kế toán viên quản trị của Mỹ (IMA), KTCP được định nghĩa là kỹ thuật hay phương pháp để xác định chi phí cho một dự án, một quá trình hoặc một sản phẩm… Chi phí này được xác định bằng việc đo lường trực tiếp, kết chuyển tuỳ ý, hoặc phân bổ một cách có hệ thống và hợp lý.

Theo Periasamy P. (2010) “KTCP là hệ thống kế toán chính thức được thiết lập để ghi nhận chi phí. Nó là một quá trình hệ thống để xác định giá thành đơn vị của sản phẩm sản xuất ra hoặc dịch vụ được cung cấp” [53]. Theo đó KTCP cung cấp thông tin phục vụ cho lập BCTC và cho quản trị doanh nghiệp. Việc ghi nhận chi phí theo yêu cầu của KTTC và ghi nhận chi phí theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp có sự khác nhau đáng kể. Theo yêu cầu của KTTC để phục vụ cho việc lập BCTC nhằm cung cấp thông tin tin cậy, hữu ích và so sánh được cho người sử dụng, việc ghi nhận và hạch toán chi phí phải tuân thủ theo các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung. Ngược lại, theo yêu cầu của quản trị doanh nghiệp, KTCP không nhất thiết phải tuân thủ theo các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung nhưng phải đáp ứng được yêu cầu phù hợp, tin cậy; việc phân loại và xác định chi phí cho các mục đích khác nhau phải có ý nghĩa khác nhau.

Như vậy, từ sự phân tích ở trên, tác giả cho rằng: “KTQTCP là một bộ phận của KTQT, thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp các thông tin về chi phí để lập kế hoạch, chỉ đạo, kiểm soát và đánh giá phục vụ cho quản trị doanh nghiệp”. Quan điểm KTQTCP là một bộ phận của KTQT sẽ được tác giả sử dụng xuyên suốt cho các nội dung phân tích và trình bày trong luận án này.

4. Đặc trưng của kế toán quản trị chi phí

Từ khái niệm KTQTCP như trên tác giả thấy rằng:

– KTQTCP là một phân hệ cấu thành quan trọng của hệ thống KTQT nói riêng và của hệ thống kế toán nói chung. KTQTCP phát triển dựa trên nhu cầu thông tin của nhà quản trị trong doanh nghiệp và KTQTCP ngày càng hoàn thiện về nội dung, phương pháp để đáp ứng nhu cầu thông tin;

– Thông tin KTQTCP thu thập, xử lý, cung cấp bao gồm cả thông tin quá khứ, hiện tại và tương lai nhằm giúp nhà quản trị lập kế hoạch, chỉ đạo tổ chức thực hiện, kiểm soát và đánh giá thực hiện để ra được các quyết định đúng đắn;

– Về chức năng của KTQTCP: là một bộ phận của KTQT nên KTQTCP phải có những chức năng của kế toán nói chung và của KTQT nói riêng. Do đó, KTQTCP có những chức năng phản ánh và cung cấp thông tin về  hoạch định hoạt động và kết quả hoạt động SXKD; kiểm tra, đánh giá hoạt động SXKD và phục vụ cho việc ra quyết định quản trị của nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp.

Các chức năng của KTQTCP luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau và rất khó đưa ra một ranh giới, phạm vi chính xác của từng chức năng. Sự phân chia các chức năng KTQTCP chỉ mang tính chất tương đối, dựa vào trọng tâm của từng chức năng trong liên kết, định hướng thiết lập thông tin cung cấp cho các mục tiêu quản trị doanh nghiệp của những nhà quản trị.

5. Vai trò của kế toán quản trị chi phí

Xuất phát từ nhu cầu thông tin của nhà quản trị bên trong doanh nghiệp với mong muốn ra được những quyết định đúng đắn, kịp thời, KTQTCP có vai trò giúp các nhà quản trị lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát và đánh giá thực hiện kế hoạch.

– Chức năng lập kế hoạch: Lập kế hoạch là một công việc không thể thiếu trong quản trị doanh nghiệp. Khi lập kế hoạch cần xác định mục tiêu hoạt động, xây dựng chiến lược tổng thể và kế hoạch chi tiết đến từng hoạt động gắn với một bộ phận cụ thể. KTQTCP phải cụ thể hóa kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp thành các dự toán sản xuất kinh doanh, ước tính chi phí cho các sản phẩm, dịch vụ, phân bổ nguồn lực … theo yêu cầu của nhà quản trị để ra các quyết định đúng đắn.

– Chức năng tổ chức thực hiện: Để tổ chức thực hiện được kế hoạch, chiến lược đã đặt ra, nhà quản trị cần phải có các thông tin chi phí về các hoạt động để điều hành, thay đổi các hoạt động hay phân phối lại nguồn lực nhằm đạt hiệu quả tối ưu. Bởi vậy, để thực hiện chức năng này KTQTCP phải phản ánh, cung cấp thông tin thực hiện của các nội dung chi phí như: chi phí sản xuất, chi phí quản lý, chi phí bán hàng…

– Chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động: Dựa trên các định mức, kế hoạch thực hiện, KTQTCP sẽ thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát các dự toán, kế hoạch đã đề ra nhằm kịp thời phát hiện những tồn tại, hạn chế mà khắc phục cũng như phát huy những mặt mạnh để hướng tới đạt các mục tiêu đã đề ra. Bởi vậy mà KTQTCP cung cấp các thông tin về chi phí thông qua các báo cáo giúp nhà quản trị kiểm soát chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động.

– Chức năng đánh giá thực hiện kế hoạch: Để có cơ sở tính toán, phân tích các thông tin, đánh giá thực hiện kế hoạch KTQTCP cần xây dựng hệ thống chỉ tiêu một cách đầy đủ, có cơ sở và phù hợp để làm căn cứ giúp nhà quản trị doanh nghiệp đánh giá được tình hình thực hiện chi phí với định mức, dự toán đã lập. Báo cáo đánh giá cần chỉ rõ những kết quả đạt được và những vấn đề còn tồn tại, đồng thời làm cơ sở cho việc lập kế hoạch, dự toán trong kỳ tiếp theo.

– Chức năng ra quyết định: Đây là chức năng quan trọng, xuyên suốt các khâu quản trị của doanh nghiệp từ khâu lập kế hoạch, kiểm tra, đánh giá. Với nhiệm vụ cung cấp các thông tin cho nhà quản trị trong quá trình ra quyết định, KTQTCP ngoài việc hiểu quá trình ra quyết định của nhà quản trị còn phải nắm được loại quyết định mà từng cấp quản trị trong tổ chức cần phải có để có thể cung cấp loại thông tin thích hợp.

Theo tác giả, KTQTCP có vai trò quan trọng trong việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin hữu ích cho nhà quản trị doanh nghiệp trong quá trình điều hành và ra quyết định. Việc tổ chức công tác KTQTCP trong mỗi doanh nghiệp như thế nào để có thể phát huy tốt nhất vai trò này lại phụ thuộc vào mỗi nhà quản trị, quy mô doanh nghiệp, trình độ cán bộ quản lý và cán bộ kế toán cũng như xuất phát từ nhu cầu thông tin quản trị của các cấp quản trị.