1.Mở đầu
Ngôn ngữ và thể hiện ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trong quan hệ xã hội. Vì vậy, phương thức thể hiện ngôn ngữ viết và nói luôn luôn được mọi người trong xã hội quan tâm. Sự tác động của cách thể hiện ngôn ngữ, nội dung của một bài viết, một bài phát biểu, một cuộc đối thoại, một cuộc tranh luận về lĩnh vực cụ thể có ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý của người nghe, người đọc, theo đó người thể hiện được đồng tình, được chấp nhận hay bị phản đôi từ phía người nghe, người đọc. Sự thành công hay thất bại của người thể hiện có được sự đổng cảm hay bị phản đối từ phía người nghe là điều mà người hành nghề trong lĩnh vực pháp luật luôn luôn quan tâm.
Ý chí và sự hiểu biết của người hành nghề luật được thể hiện thông qua ngôn ngữ nói và viết của người đó. Do đó, khẩu khí và thuật hùng biện của cá nhàn hành nghề trong lĩnh vực pháp luật cần được chú ý.
2.Khả năng diễn thuyết
Khả năng diễn thuyết là yếu tố quan trọng dẫn đến thành công. Một người biết ăn nói sẽ được tôn trọng, đánh giá cao hơn trong công ty và dễ thu hút được sự chú ý của những người có thể giúp đỡ hoặc tạo cơ hội phát triển cho bạn. Khả năng diễn đạt tốt còn chứng tỏ cho mọi người thấy bạn thông minh và tài giỏi hơn những người không có khiếu ăn nói. Tài sản lớn nhất của bạn chính là trí tuệ. Một trong những kỹ năng đáng quý nhất là khả năng tư duy tốt và thể hiện một cách rõ ràng, rành mạch. Kỹ năng này có thể giúp bạn được tăng lương và thăng cấp nhanh hơn bất kỳ kỹ năng nào khác. Hơn hết, cách duy nhất để bạn thể hiện hiểu biết chuyên sâu của mình về một lĩnh vực là biến suy nghĩ và ý tưởng của bạn thành lời nói hoặc văn bản. Khi bạn diễn đạt tốt, mọi người sẽ nói, “Anh ta thực sự biết mình đang nói gì”. Tin vui là trí tuệ của bạn cũng giống như các bó cơ. Nó trở nên khỏe khoắn và bền bỉ hơn qua quá trình vận động. Việc sắp xếp suy nghĩ và ngôn từ kỹ càng trước khi nói sẽ giúp bạn có ý thức và cẩn thận hơn về những điều bạn sắp nói và cách bạn diễn đạt chúng. Việc lên kế hoạch, chuẩn bị và truyền tải lời nói cho bài thuyết trình sẽ khiến bạn sử dụng khả năng tư duy ở cấp độ cao hơn, và dĩ nhiên cũng sẽ giúp bạn thông minh hơn.
3.Khái niệm khẩu khí là gì ?
Khẩu khí theo Từ điển Hán Việt là chí khí hiện ra ở lời nói. Nhận xét về một người, có thể quan sát bên ngoài hình thể, khuôn mặt của người đó, nhưng chưa thể biết hết và hiểu hết được con người đó là người nóng tính hay người thuần tính. Động tác hay cử chỉ của một con người thì không thể quan sát hết được nhưng dáng đi, giọng nói, cách nói, cách cười, ngôn ngữ lúc nói chuyện, lúc thuyết trình, lúc kể chuyện, lúc cáu giận, bực tức hay hờn giận một ai đó... có thể phần nào giúp ta biết được bản lĩnh của người đó.
Muốn hiểu đúng về một con người thì phải biết người đó trong một không gian và thời gian nhất định, mà khẩu khí của người đó phần nào giúp ta hiểu được tầm tính của người đó. Chí khí của một người thể hiện thông qua khẩu khí. Khẩu khí
thể hiện dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau, nhưng chí khí của người đó như một hạt nhân thể hiện rõ bản lĩnh của người đó: Dũng cảm, thẳng thắn hay bạc nhược, sắc sảo hay nông cạn, có lôgic phản ánh đúng bản chất và nội dung của đối thoại hay không phản ánh đúng nội dung cuộc đối thoại. Người có khẩu khí đó đang ở thế chủ động hay đang bị động trong đối thoại. Tâm lý thoải mái hay bị ức chế?
Đánh giá khẩu khí của một người cần có sự kết hợp với điệu cười của người đó trong những hoàn cảnh khác nhau, để có được sự đánh giá chính xác nhất. Quan sát cách cười, âm hưởng của nụ cười và phản ứng của người đó trong lúc bất ngờ thể hiện rõ tâm tính ra bên ngoài một cách khách quan.
Khẩu khí phản ánh mặt biểu lộ của ngôn ngữ mà người trầm mặc thì ít nói, nhưng cũng có người nói huyên thuyên không dứt và thậm chí họ coi xung quanh mình chỉ mỗi mình biết nói! Có người lại hay châm trọc hoặc hài hước, người thì nghĩ sao, nói vậy... Nhưng khẩu khí của cá nhân thể hiện ra bên ngoài và phản ánh khách quan tâm lý, tư cách, hiểu biết của một người. Tuy không phản ánh được tất cả, nhưng phần lớn khí chất của người nói giúp người nghe có thể hiểu được những nét cơ bản về tính khí của người đối thoại.
Qua cách một người biểu đạt ngôn ngữ, ta có thể thấy người đó có tài ăn nói, đối ứng hay không.
Những người có khẩu khí mạnh, ngữ điệu cao vót, âm lượng lớn, có gợn trong âm sắc thì có thể là người hiếu thắng, hoặc là người khoe mê, hoặc là người đang rất yếu về bản lĩnh và hoang mang về tâm lý, hoặc là người đang sợ người khác hiểu rõ về mình mà dùng khẩu khí để “tung hỏa mù”... Những kẻ có dã tâm thường rất giỏi về “tung hỏa mù” ngôn ngữ để che giấu suy nghĩ thật của bản thân. Chỉ có những người sống bên cạnh người đó trong thời gian dài mới có thể hiểu rõ bản chất khẩu khí của người này. Tính cách và nhân cách của loại người này đã được tác giả đúc kết trong bài thơ “Tinh rắn độc”
Thân nhũn mêm quệt dài từng ngõ hẻm
đớp sương đêm lưỡi uốn lượn trăm chiều
ngày đờ đẫn vạch mắt dài mơ mộng lẫn vào đềm lại bịa
chuyện đặt điều cổ dài vươn hóng hớt bao chuyện lạ khéo
dấu mình theo mầu sắc muôn hoa trong đổng loại vẫn còn
tinh rắn độc tình nhân gian khó sống được chan hoài
Vậy khẩu khí được hiểu là chí khí của cá nhân thể hiện ra bên ngoài qua ngôn ngữ nói, ngôn ngữ đọc. Khẩu khí phản ánh khách quan tâm trạng, cảm xúc, tư cách, trải nghiệm, tâm lý, học vấn, bản lĩnh và các tố chất khác tạo thành tính cách của cá nhân khi đối thoại, tranh luận với chủ thể khác về một vấn đề xã hội hay chuyên môn.
4.Có những loại khẩu khí nào ?
Khẩu khí và ngôn ngữ phản ánh tư tưởng, tính khí, sự trải nghiệm, văn hóa ứng xử và phông văn hóa của người thể hiện. Khẩu khí thể hiện ra bên ngoài cả phần ầm thanh lẫn sắc mặt, động tác của người nói, qua đó phản ánh khách quan tư chất, bản lĩnh của người nói. Các động tác, cử chỉ kèm theo khẩu khí như ánh mắt, cúi đầu hay ngẩng"đầu, nhìn thẳng hay nhìn trước, nhìn sau, nhìn xéo, vung tay, chỉ trỏ, đập tay, đạp chân, lắc đầu... đều phản ánh qua khí chất của ngôn ngữ, phản ánh tính chất của khẩu khí. Tính chất của khẩu khí xét về hình thức thể hiện có thể tạm thời xác định:
-Khẩu khí thể hiện tính kẻ cả, bề trên.
-Khẩu khí thể hiện tính hống hách, thách đấu, khiêu khích.
- Khẩu khí thể hiện tính khoe khoang, tính bạc nhược, tính đố kỵ, tính yếu hèn và tính hận thù.
-Khẩu khí thể hiện tính tự mãn.
- Khẩu khí thể hiện tính tự chủ, tự lập, bản lĩnh, tính cương quyết, tính mệnh lệnh và tính làm chủ cuộc đối thoại của chủ thể.
-nKhẩu khí thể hiện tính cam chịu, tính giải hòa... và tính dạy đời.
- Khẩu khí làm cho người khác an tâm hoặc làm thay đổi tư tưởng, ý đồ ban đầu của người đó.
Khẩu khí của con người bộc lộ ra bên ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau và dấu hiệu âm thanh phản ánh khách quan khẩu khí của con người. Dạng thức âm thanh của một cá nhân cho dù to hay nhỏ, rõ ràng hay không rõ ràng, khan đục hay trong trẻo, ấm hay sắc lạnh, có âm hưởng hay vô cảm phản ánh sinh lực của người đó là minh mẫn hay không minh mẫn, nóng vội hay thâm thúy. Khẩu khí của cá nhân không phụ thuộc vào hình dáng, cao thấp, gầy hay béo, khỏe hay yếu... mà căn cứ vào dung lượng khẩu khí, tính chất khẩu khí trong một hoàn cảnh nhất định về không gian và thời gian, về bản chất của quan hệ mà người đó là chủ thể, chủ động hay bị động hay là người có liên quan đến sự kiện nhẫt định. Khẩu khí phản ánh tâm tính của con người, phản ánh thiện ác, phản ánh suy nghĩ thực hay giả, có dã tâm hay có tấm lòng, vì người khác hay chỉ vì mình. Khẩu khí có thể uất ức mà sinh ra, có thể từ khí phách mà nảy sinh và cũng có thể từ trải nghiệm hay thiếu vốn sống của chủ thể...
Đánh giá tính cách của cá nhân và có thể biết được cơ bản tính cách của cá nhân đó thông qua ngôn ngữ nói, nhưng những điều bí ẩn bên trong tâm tính của cá nhân đó chỉ có thể biết được nhờ vào khẩu khí mà người đó thể hiện ra bên ngoài khi đối thoại với người khác. Dưới đầy là một số viện dẫn để nhằm minh chứng khẩu khí của nhân vật thể hiện rõ tư tưởng, quan điểm sống, nhân cách sống của một cá nhân.
Khẩu khí của chàng Ham-lét trong vở kịch cùng tên của nhà viết kịch nổi tiếng người Anh Uy-li-am Sếc-xpia (1564 - 1616), thể hiện tính khí thật rõ: “Con người có ra gì, nếu đem tất cả phần tinh túy và giả trị đời mình vào việc ăn, việc ngủ? Chỉ là con vật, không hơn. Chắc chắn là ông Tạo phù cho ta trí suy xét bao la, biết lường trước, tính sau, phải đâu là để cái năng khiếu ấy, cái lý trí thần thánh ây bị hoen gỉ ở trong ta mà không được dùng tới?”... “Ta thường quy về cho trời đất cái mà chính ta tạo ra chứ không ai khác?”.
Ngôn ngữ Việt Nam có câu: “Lời nói, đọi máu” để răn mọi người trước khi nói phải nghĩ kỹ và có nên nói hay không? Nếu nói thì nói cái gì? Nói đến đâu? Khẩu khí ôn hòa hay cáu gắt hay thách thức hay đố kỵ, tự ty hay tự cao, tự đại cho mình hơn người, gây ra thù hận hoặc làm cho người đối thoại đau đớn mới hả lòng!
Hay thuật ngữ của Đạo giáo coi trọng thuyết “Tam nghiệp” để răn dạy con người. Tam nghiệp là ba nghiệp: Nghiệp do “Thân”, “Khẩu” và “Ý” gây nên. Tam thập lục bộ tôn kinh Ngọc Thanh kinh viết: “Thấy các chúng sinh tạo ba nghiệp thân, khẩu, ỷ chẳng lành, bị sa xuống địa ngục. Trong ba nghiệp đó nếu một nghiệp chẳng lành thì sau khi chết đi ắt sẽ bị đạo xuống địa ngục”.
Có những loại khẩu khí nhằm thúc đẩy tâm lý hưng phấn cho con người yêu cuộc sống và ham sống hơn. Có những khẩu khí reo rắc mối nghi ngờ giữa người với người. Có khẩu khí nâng cao tư thế của người có khẩu khí đó và cũng nâng cao tầm của một cộng đồng, một dân tộc mà người có khẩu khí đó là người đại diện. Có những khẩu khí như một lời khuyên, làm tiêu tan mối nghi ngờ, mối đố kỵ của con người với con người. Có khẩu khí làm cho người ta quyết tâm vượt qua khó khăn trước mắt mà vươn lên. Có những khẩu khí vùi dập người khác, khinh thường người khác, khinh địch mà mình đang trong thế yếu, thế bị động, thế bất lợi trong một quan hệ nhất định. Có khẩu khí cứu nguy cho cả một cộng đồng, mặc dù khẩu khí đó không sắc nhọn như chông, như mác nhưng lại có sức nặng, bề dày của văn hóa, của lòng nhân ái, tỉnh táo chủ động để hóa giải hoàn cảnh gay cần thành hiểu nhau và hòa hợp hoặc hóa giải nguy cơ tiềm ẩn cho một cộng đổng, một dân tộc.
5.Ví dụ về khẩu khí như không dùng khẩu khí
Sau đây là một ví dụ về khẩu khí như không dùng khẩu khí. Vì nó nhẹ nhàng, có chủ đích và phải là người am hiểu về cái đau khổ, cái mất mát và có tấm lòng nhân ái, yêu thương con người hết mực mới thực hiện được.
Thuở xưa có một vị vua tên là Mahavijita. Nhà vua muốn làm lễ tế trời đầt để được sống lâu hưởng hạnh phúc an lạc, liền cho mời vị Ba-la-môn là chủ tế để hỏi ý kiến. Khi tiếp kiến vua, vị này tâu rằng: “Thưa đại vương, nước nhà đang chịu nhiều tai ương ách nạn đầy rẫy bọn cướp nhà, cướp đường. Nếu đại vương thu thêm thuế thì thật là hành động sai lạc. Đại vương muốn trừ diệt bọn cướp bằng án tử hình, giam cầm và các hình thức phạt khác thì nạn này không thể trừ diệt hoàn toàn mà còn tiếp tục hành hoành. Có giải pháp để loại trừ chúng bằng cách hưng thịnh quốc gia bằng cách hãy cấp cho dân ruộng đất, hạt giống, cây giống và vật nuôi nếu họ làm nghề nông; giảm thuế cho người làm nghề thương mại; có thể cấp cho họ thêm vốn để đâu tư; đối với công chức và quân nhàn, đại vương cấp cho họ lương bổng... như vậy, người dân trong nước chuyên tâm vào nghề riêng của mình, không nhiễu hại quốc gia, dân chúng an cư, lạc nghiệp, không tai ương ách nạn, nhà cửa mở rộng không cần then cài”. Vua nghe lời, dân chúng trong nước được bình an. Vê' chính trị và quân sự, vị vua này cũng luôn luôn hỏi ý kiến của Đức Phật cách cai trị nước.
Tại xứ Ma Kiệt Đà, nhà vua A-Xà-Ihế muốn chinh phục dân Bạc-Kỳ, bèn yêu cầu Bà-la-môn Vũ Xá đến để hỏi ý kiến của Đức Phật. Nhưng Đức Thế Tôn không trả lời thẳng Vũ-Xá, mà lại nói với Đại Đức A-Nan đang đứng quạt hầu ngài. Đức Thế Tôn hỏi: “Này A-Nan ngươi có nghe dân Bạc-Kỳ thường hay tụ tập đông đảo với nhau không?
- Bạch Thế Tôn, con có nghe.
- Dân Bạc-Kỳ thường hay tụ tập thì được cường thịnh.
- Bạch Thế Tôn, con có nghe.
- Dân Bạc-Kỳ thường ban hành những luật lệ không nên ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng vôi truyền thống thời xưa không?
- Bạch Thế Tôn, con có nghe.
- Người Bạc-Kỳ cung phụng các trưởng lão, và nghe theo lời họ?
- Bạch Thê Tôn, con có nghe”.
Nghe xong cuộc đối thoại, Bà-la-môn thưa với Phật rằng: “Thưa Tôn - Giả Gotama, nếu dân Bạc-Kỳ chỉ cần hội tụ đủ một trong những đức tính trên, thì họ nhất định được cường thịnh, vua A-Xà-Thếkhông thể đánh bại họ”.
Qua cuộc đối thoại trên, nhận thấy thái độ sáng suốt, thận trọng hợp tình, hợp lý của Đức Thế Tôn, cứu dân Bạc-Kỳ tránh được xung đột, không phải đổ máu.
Luật Minh Khuê(sưu tầm và biên tập)