1. Khái quát về chế độ bầu cử theo tỷ lệ
Chế độ bầu cử tỷ lệ chỉ được áp dụng ở những đơn vị bầu cử có nhiều ghế đại biểu, trong đó đơn vị bầu cử càng lớn (số đại biểu được bầu càng nhiều) thì mức độ tỷ lệ càng cao. Trong chế độ bầu cử tỷ lệ, các đảng chính trị tham gia tranh cử đề cử danh sách ứng cử viên của mình. Thông thường trên phiếu chỉ in tên và biểu tượng của đảng, cử tri bỏ phiếu cho đảng nào thì đánh dấu vào ô đối diện với đảng đó. Sau khi cuộc bầu cử kết thúc và xác định được số phiếu của từng đảng chính trị, việc phân ghế đại biểu được tiến hành. Trước hết phải xác định định mức bầu cử, tức là xác định số phiếu tối thiểu cần thiết để bầu một đại biểu. Các nước áp dụng các phương pháp xác định định mức bầu cử khác nhau.
2. Phương pháp xác định định mức bầu cử đầu tiên năm 1855
Phương pháp xác định định mức bầu cử đầu tiên do luật sư người Anh Tomac Hare đưa ra vào năm 1855
s = x:y
Trong đó:
s là định mức bầu cử của đơn vị bầu cử
X là tổng số phiếu cử tri của đơn vị bầu cử (phiếu hợp lệ)
y là số đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu
Sau khi xác định được E số ghế đại biểu của từrig đảng sẽ bằng thương số của số phiếu cử tri mà đảng đó thu được chia cho định mức bầu cử (chỉ lấy phần số nguyên). Phương pháp này có hạn chế là để lại nhiều phiếu cử tri không sử dụng (phiếu thừa) và các ghế đại biểu không phân được hết.
Ví dụ: Thành phố s có 500.000 cử tri được bầu 8 đại biểu, có 5 đảng tranh cử là A, B, C, D, E.
Kết quả số phiếu của mỗi đảng nhu sau:
A thu được 170.000;
B thu được 130.000;
c thu được 90.000
D thu được 75.000;
E thu được 35.000.
Định mức bầu cử đơn bị bầu cử là 500.000: 8=62.500
Số ghế đại biểu của mỗi đảng là
A 170.000 : 62.500 = 2 dư 45.000
B 130.000: 62.500 = 2 dư 5.000
c 90.000: 62.500 = 1 dư 27.500
D 75.000: 62.500 = 1 dư 12.500
E 35.000: 62 500 = 0 dư 35.000
Như vậy tại lần chia đầu đã phân được 6 trong số 8 ghế đại biểu, còn dư 2 ghế đại biểu và 125.000 phiếu cử tri của 5 đảng. Để tiếp tục phân ghế đại biểu còn dư, các nước áp dụng các nguyên tắc sau:
2.1 Nguyên tắc số dư lớn nhất
Theo nguyên tắc này, số ghế đại biểu còn dư sẽ chia cho đảng nào có số phiếu dư lớn nhất. Trong Ví dụ nêu trên đảng A và E có số dư tương ứng là 45.000 và 35.000 sẽ nhận được hai ghế còn lại.
Kết quả đảng A được 3 ghế; B được 2 ghế; c được 1 ghế; D được 1 ghế; E được 1 ghế.
Nếu chúng ta so sánh tỷ lệ giữa số phiếu cử tri và số ghế đại biểu của đảng c và E sẽ thấy sự bất hợp lý sau: đảng c thu được nhiều phiếu cử tri hơn đảng E tới 2,57 lần (90.000: 35.000), song đảng c chỉ chiếm được 1 ghế đại biểu như đảng E. Nói cách khác, đảng c thu được 18% tổng số phiếu cử tri (90.000: 500.000 X 100%) chiếm 1 ghế đại biểu, trong khi đó đảng E thu được 7% tổng số phiếu (35.0Ô0: 500.000 X 10%) cũng chiếm 1 ghế đại biểu. Như vậy, trong trường hợp này, nguyên tắc số dư lớn nhất không bảo đảm tính đại diện tỷ lệ giữa các đảng chính trị.
2.2 Nguyên tắc số dư trung bình lớn nhất:
Để khắc phục khhiếm khuyết nói trên, một số nước áp dụng nguyên tắc số dư trung bình lớn nhất. Theo nguyên tắc này, số ghế đại biểu còn dư sẽ chia cho đảng nào có thương số lớn nhất khi chia số phiếu cử tri của đảng cho số ghê' đã thu được sau lần chia đầu tiên cộng với 1.
Trong trường hợp nêu trên số dư trung bình của các đảng sẽ là:
| A 170.000: (2+1) | = 56.666 |
| B 130.000: (2+1) | = 43.333 |
| c 90.000: (1+1) | = 45.000 |
| D 75.000: (1+1) | = 37.500 |
| E 35.000: (0+1) | = 35.000 |
Hai ghế còn dư sẽ được chia cho đảng A và c là hai đảng có số dư trung bình lớn nhất, kết quả là A-3 ghế; B - 2 ghế; c - 2 ghế; D-l ghế; E - 0 ghế.
3. Phương pháp xác định định mức bầu cử khác năm 1885
Phương pháp xác định định mức bầu cử khác do luật sư người Anh Droop đưa ra vào năm 1885
z=[x:(y+l)]+l
Năm 1888 Giáo sư Hohenback Bischof đưa ra công thức
z = x: (y+1)
Cả hai phương pháp trên đều giảm định mức bầu cử với mục đích phân nhiều ghế đại biểu hơn sau lần chia đâu tiên. Nếu áp dụng phương pháp Hohenback Bischof cho ví dụ nêu trên sẽ có kết quả sau
Định mức bầu cử là 500.000: (8+1) = 55.555
Số ghế của mỗi đảng là
A 170.000: 55.555 = 3 dư 3.335
B 130.000:55.555 =2 dư 18.890
c 90.000: 55.555 = 1 dư 34.445
D 75.000: 55.555 = 1 dư 19.445
E 35.000: 55.555 = 0 dư 35.000
Sau lần chia thứ nhất 7 ghế trong tổng số 8 ghế đại biểu đã được phân cho các đảng, 1 ghế được dư sẽ áp dụng hoặc nguyên tắc số dư lớn nhất, hoặc nguyên tắc số dư trung bình lớn nhất để phân cho các đảng.
4. Phương pháp số chia để phân ghế đại biểu
Một số nước áp dụng phương pháp số chia để phân ghế đại biểu. Ưu điểm của phương pháp này là cho phép ngay lâp tức chia được toàn bộ số ghê' đại biểu cử tri đơn vị bầu cử. Nội dung của phương pháp này lấy tổng số phiếu cử tri của từng đảng chia cho các số theo trình tự nhất định. Phương pháp này do Giáo sư
V.D'Hont đưa ra vào năm 1882. Mục đích của phương pháp này nhằm bảo đảm sao cho sau khi chia toàn bộ số ghế đại biểu của đơn vị bầu cử thì số phiếu trung bình trên một ghế đại biểu của các đảng phải gần như nhau. Bởi vậy, phương pháp này còn được gọi là phương pháp số trung bình lớn nhất.
V.D’Hont đề nghị chia số phiếu cử tri của từng đảng cho các số nguyên theo thứ tự 1 - 2 - 3 - 4... cho đến khi chia được toàn bộ số ghê' đại biểu của đơn vị bầu cử. Nếu áp dụng phương pháp này cho ví dụ nêu trên sẽ thu-được kết quả sau.
| Đảng | A | B ■ ... | c | D | E |
| 1 | 170.000 | 130.000 | 90.000 | 75.000 | 35.000 |
| 2 | 85.000 | 65.000 | 45.000 | 37.500 | 17.500 |
| 3 | 56.666 | 43.333 | 30.000 | 25.000 | 11.666 |
| 4 | 42.500 | 32.500 | 22.000 | 18.750 | 8.750 |
Tám thương số cao nhất sẽ tương ứng với 8 ghế đại biểu cần phân và số chia sẽ dừng lại khi xác định được 8 thương số này, 45.000 là thương số nhỏ nhất trong 8 thương số được gọi là số chia chung (common divisor) hay định mức bầu cử (elẹctorat quotient). Trong trường hợp trên số chia dừng lại ở số 4. Số đại biểu của các đảng như sau: Đảng A-3 đại biểu; B-2; C-2; D-l; E-không có đại biểu.
Kết quả cho chúng ta thấy, phương pháp V.D’Hont mang lại .ưu thế cho những đảng lớn. Các nước Áchentina, Ba Lan, Bỉ, Đức áp dụng phương pháp này.
Trên cơ sở phương pháp V.D’Hont một số học giả đề nghị chia theo những con số có thứ tự khác. Ví dụ, học giả người Italia Imperial đề nghị chia theo dãy SỐ2-3-4-5 - 7...
Chế độ bầu cử tỷ lệ tạo điều kiện cho những đảng nhỏ có đại diện trong cơ quan dân cử. Tuy nhiên, thành phần của Nghị viện gồm nhiều đảng chính trị lớn nhỗ khác nhau sẽ ,dẫn đến tình trạng các đảng thường xuyên tranh chấp về quyền lợi. Trong điều kiện đó, Nghị viện không thể làm việc bình thường. Bởi vậy, hầu hết các nước áp dụng chế độ bầu cử tỷ lệ đều đưa ra biện pháp nhằrp hạn chế sự hiện diện của những đảng-'chính trị quá nhỏ ở Nghị việri. Biến pháp được các nước sử dụng hiện nay được gọi là điểm liệt. Theo biện pháp này, những đảng chính trị không thu đủ số lượng tối thiểu phiếu cử tri sẽ không được chia ghế đại biểu. Ví dụ, ở Đức, Nga đảng nào không thu được 5% tổng số phiếu bầu của cử tri sẽ không được chia ghế đại biểu; ở Bungari; Hunggari; Italia 4%; ở Tây Ban Nha 3%; ở Ixraen 1%...
5. Liên hệ với Việt Nam
Ở Việt Nam, kết quả bầu cử phụ thuộc vào kết quả kiểm phiếu sau cuộc bầu cử:
Sau khi nhận, kiểm tra biên bản kết quả kiểm phiếu bầu cử của các Tổ bầu cử và tình hình tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo (nếu có), Ban bầu cử đại biểu Quốc hội lập biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV ở đơn vị bầu cử mà mình phụ trách (theo mẫu 21/HĐBC-QH).
Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV tại đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội gồm các nội dung sau đây:
- Số lượng đại biểu Quốc hội được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử.
- Số lượng người ứng cử đại biểu Quốc hội.
- Tổng số cử tri của đơn vị bầu cử.
- Số lượng cử tri đã tham gia bỏ phiếu, tỷ lệ so với tổng số cử tri của đơn vị bầu cử.
- Số phiếu phát ra.
- Số phiếu thu vào.
- Số phiếu hợp lệ.
- Số phiếu không hợp lệ.
- Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử (có tỷ lệ % so với tổng số phiếu hợp lệ).
- Danh sách những người trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XV tại đơn vị bầu cử.
- Tóm tắt những việc xảy ra, kiến nghị về việc bầu cử thêm, bầu cử lại (nếu có).
- Những khiếu nại, tố cáo do các Tổ bầu cử giải quyết; những khiếu nại, tố cáo do Ban bầu cử đại biểu Quốc hội giải quyết.
- Những khiếu nại, tố cáo chuyển đến Ủy ban bầu cử, Hội đồng bầu cử quốc gia.
Biên bản xác định kết quả bầu cử bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV ở đơn vị bầu cử được lập thành 03 bản, có chữ ký của Trưởng ban, các Phó Trưởng Ban bầu cử. Biên bản được gửi đến Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh chậm nhất là ngày 28 tháng 5 năm 2021 (hoặc 05 ngày sau ngày bầu cử). Các đơn vị cấp dưới hoặc tương đương sẽ thực hiện với quy trình tương tự. Đôi khi phải tiến hành bầu cử lại. Bầu cử lại là việc bầu cử được thực hiện ở các đơn vị bầu cử mà tại cuộc bầu cử đầu tiên, số cử tri đi bỏ phiếu tại đơn vị bầu cử chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri ghi trong danh sách cử tri hoặc việc bầu cử được thực hiện ở khu vực bỏ phiếu, đơn vị bầu cử có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong cuộc bầu cử đầu tiên và kết quả bầu cử bị hủy bỏ theo quyết định của Hội đồng Bầu cử Quốc gia.
CƠ SỞ PHÁP LÝ:
Hiến pháp nước Cộng hòa Ba Lan 1997
Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993
Hiến pháp Italia 1947
Hiến pháp Nhật Bản 1946
hiến pháp cộng hòa Xéc năm 1992
Đạo luật Liên bang Áo năm 1970
Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 để được giải đáp thắc mắc.
Trân trọng!