1.Khái quát về trợ cấp và các biện pháp đối kháng 

Trợ cấp và các biện pháp đối kháng được quy định tại Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng (Hiệp định SCM). Hiệp định SCM có hai chức năng: đưa ra khuôn khổ cho việc áp dụng trợ cấp, và điều chỉnh các hành động có thể được các thành viên thực hiện để đối kháng lại các tác động của trợ cấp. Hiệp định quy định một nước có thể sử dụng thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO để làm cho nước xuất khẩu rút lại biện pháp trợ cấp, hoặc loại bỏ những tác động tiêu cực của trợ cấp. Hoặc nước đó có thể tự tiến hành điều tra và cuối cùng áp thuế nhập khẩu bổ sung (được gọi là ‘thuế đối kháng’) đối với hàng hoá nhập khẩu được trợ cấp và được cho là gây thiệt hại cho nhà sản xuất nội địa. Trong khuôn khổ WTO, trợ cấp không hoàn toàn bị cấm. Trợ cấp được phép thực hiện trong những điều kiện và hạn chế nhất định. WTO có hai nhóm hiệp định về trợ cấp, tùy thuộc vào loại sản phẩm được trợ cấp, đó là: (i) Hiệp định SCM áp dụng cho cả hàng công nghiệp và hàng nông nghiệp; và (ii) Hiệp định AoA áp dụng cho hàng nông nghiệp.

2. Phạm vi điều chỉnh và định nghĩa

Theo khoản 1 Điều 1 Hiệp định SCM, trợ cấp được cho là tồn tại khi có sự đóng góp về tài chính của chính phủ hoặc của bất kì cơ quan công quyền nào nằm trong lãnh thổ của một thành viên theo một trong các cách mang lại lợi nhuận, đáng chú ý là những cách sau: (i) Chính phủ chuyển vốn trực tiếp (ví dụ, tài trợ, cho vay và góp cổ phần), có khả năng chuyển hoặc nhận nợ trực tiếp (ví dụ, bảo lãnh tiền vay); (ii) Các khoản thu nộp cho chính phủ đã được bỏ qua hay không thu (ví dụ, ưu đãi tài chính như miễn thuế); (iii) Chính phủ cung cấp hàng hoá hoặc dịch vụ không phải là cơ sở hạ tầng chung hoặc mua hàng hoá; (iv) Chính phủ góp tiền vào một cơ chế tài trợ, hoặc giao hoặc lệnh cho một tổ chức tư nhân thực thi một hoặc nhiều chức năng đã nêu từ (i) đến (iii) nêu trên - là những chức năng thông thường được giao cho chính phủ, và công việc của tổ chức tư nhân trên thực tế không khác gì với những hoạt động thông thường của chính phủ. 

3. Những nội dung chủ yếu của Hiệp định

Kể từ năm 2000, Hiệp định SCM điều chỉnh hai loại trợ cấp: trợ cấp bị cấm, và trợ cấp có thể bị kiện. Hiệp định áp dụng đối với hàng nông nghiệp cũng như hàng công nghiệp, ngoại trừ những trợ cấp theo Hiệp định AoA. (a) Trợ cấp bị cấm Trợ cấp bị cấm là trợ cấp có điều kiện theo đó người được trợ cấp phải đáp ứng những mục tiêu xuất khẩu nhất định (‘trợ cấp xuất khẩu’), hoặc phải sử dụng hàng nội địa thay cho hàng nhập khẩu (‘trợ cấp thay thế nhập khẩu’). Trợ cấp này bị cấm bởi vì chúng bóp méo thương mại quốc tế, do đó có khả năng gây thiệt hại đến thương mại của thành viên khác. (b) Trợ cấp có thể bị kiện Đối với loại trợ cấp này, thành viên khởi kiện phải chỉ ra rằng trợ cấp có tác động tiêu cực đến lợi ích của họ. Nhưng mặt khác, trợ cấp này không bị cấm. Hiệp định nêu rõ ba loại thiệt hại mà trợ cấp có thể gây ra. Thứ nhất, gây thiệt hại cho ngành kinh tế nội địa của nước nhập khẩu; thứ hai, gây thiệt hại cho các đối thủ xuất khẩu từ một nước khác, khi cả hai cạnh tranh ở thị trường nước thứ ba; và thứ ba, gây thiệt hại cho những nhà xuất khẩu đang cạnh tranh tại thị trường nội địa của nước trợ cấp. Theo Hiệp định, thuế đối kháng chỉ có được áp dụng sau khi nước nhập khẩu đã tiến hành điều tra chi tiết, tương tự như việc điều tra hành vi AD. Có những quy tắc cụ thể nhằm xác định liệu một mặt hàng có được trợ cấp hay không (việc xác định này không phải luôn luôn dễ dàng); tiêu chuẩn để xác định việc nhập khẩu hàng hoá được trợ cấp đang gây thiệt hại cho ngành kinh tế nội địa; thủ tục bắt đầu và thực hiện điều tra; và những quy định về việc thực thi và thời hạn áp dụng các biện pháp đối kháng trợ cấp (thông thường là 5 năm).

4.Khái quát về biện pháp tự vệ và những nội dung chủ yếu của Hiệp định 

Biện pháp tự vệ được quy định tại Hiệp định về các biện pháp tự vệ (viết tắt là ‘SA’), đề cập đến việc bảo hộ khẩn cấp ngành kinh tế nội địa khỏi sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu. Thành viên WTO có thể tạm thời hạn chế nhập khẩu hàng hoá (thực hiện hành động ‘tự vệ’), nếu ngành kinh tế nội địa của họ bị thiệt hại hay bị đe dọa gây thiệt hại bởi sự gia tăng nhập khẩu. Trong trường hợp này, thiệt hại phải là ‘nghiêm trọng’. Các biện pháp tự vệ đã được quy định từ thời GATT 1947 (tại Điều XIX).241 SA làm rõ và củng cố các quy tắc của GATT, nhất là các quy tắc tại Điều XIX (Hành động khẩn cấp đối với việc nhập khẩu hàng hoá đặc biệt), nhằm tái lập sự kiểm soát đa phương đối với các biện pháp tự vệ và loại trừ những biện pháp vượt khỏi tầm kiểm soát 

Những nội dung chủ yếu của Hiệp định

Hiệp định dành phần lớn nội dung để xây dựng quy định cấm đối với những biện pháp được gọi là ‘vùng xám’ và thiết lập một ‘điều khoản hoàng hôn đối với tất cả các hành động tự vệ. Hiệp định quy định rằng một thành viên không được dự kiến, ban hành hay duy trì bất kì hành động hạn chế xuất khẩu tự nguyện nào, thoả thuận marketing có trật tự hoặc bất cứ các biện pháp tương tự nào khác đối với bên xuất khẩu hoặc bên nhập khẩu. Hiệp định đề ra những thủ tục điều tra tự vệ, bao gồm thông báo thẩm vấn công khai và các biện pháp thích hợp khác để các bên có liên quan đưa ra các chứng cứ, bao gồm chứng cứ về việc liệu một biện pháp có vì lợi ích chung hay không. Trong những trường hợp nghiêm trọng, có thể áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời dựa trên sự xác định sơ bộ về thiệt hại nghiêm trọng. Hiệp định đưa ra tiêu chuẩn của ‘thiệt hại nghiêm trọng’ và những yếu tố cần được xem xét để xác định tác động của nhập khẩu. Biện pháp tự vệ chỉ nên áp dụng ở giới hạn cần thiết nhằm ngăn chặn hay khắc phục những thiệt hại nghiêm trọng và tạo thuận lợi cho việc điều chỉnh. Hiệp định ấn định thời hạn cho tất cả các biện pháp tự vệ. Nhìn chung, thời hạn áp dụng một biện pháp tự vệ không quá 4 năm, tuy nhiên thời hạn này có thể được gia hạn tối đa 8 năm, với điều kiện cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu xác định sự cần thiết phải kéo dài thời hạn, và nếu có bằng chứng rằng ngành kinh tế đó đang được điều chỉnh. Bất cứ biện pháp nào, khi được gia hạn với thời gian hơn một năm, phải được tiếp tục nới lỏng trong thời gian gia hạn.

5. Khái quát về cấp phép nhập khẩu 

Hiệp định về thủ tục cấp phép nhập khẩu của WTO (sau đây gọi là ‘Hiệp định ILP’) đặt ra những quy tắc cho tất cả các thành viên trong việc sử dụng hệ thống cấp phép nhập khẩu để điều chỉnh hoạt động thương mại của mình. Hiệp định này bao gồm những hướng dẫn về cách áp dụng thủ tục cấp phép nhập khẩu công bằng và không phân biệt đối xử, với mục tiêu bảo vệ các thành viên khỏi những yêu cầu bất hợp lí hoặc chậm trễ cấp phép. Hiệp định nhấn mạnh rằng việc cấp phép nhập khẩu, đặc biệt là cấp phép nhập khẩu tự động, phải được thực hiện một cách minh bạch và có thể dự đoán được; thủ tục cấp phép không tự động không được tạo ra gánh nặng hành chính quá mức cần thiết để thực thi các biện pháp liên quan; mong muốn đơn giản hoá và minh bạch hoá các thủ tục hành chính và thực tiễn áp dụng trong thương mại quốc tế để đảm bảo việc áp dụng, quản lí các thủ tục và thực tiễn đó được bình đẳng và công bằng 2. Phạm vi điều chỉnh và định nghĩa Cấp phép nhập khẩu được hiểu là các thủ tục hành chính được sử dụng để thực hiện chế độ cấp phép nhập khẩu, yêu cầu phải nộp đơn xin nhập khẩu hoặc các loại giấy tờ khác (không phải giấy tờ cần thiết cho các mục đích hải quan) cho cơ quan hành chính liên quan như là điều kiện đặt ra trước khi nhập khẩu hàng vào lãnh thổ hải quan của thành viên nhập khẩu (khoản 1 Điều 1). Bên cạnh việc cấp phép nhập khẩu, Hiệp định còn quy định các thủ tục liên quan đến một số hoạt động gắn liền với thực tiễn, bao gồm chấp thuận nhập khẩu, cho phép hay giấy phép nhập khẩu và các giấy phép hoạt động cần thiết cho việc nhập khẩu. 3. Những nội dung chủ yếu của Hiệp định Hiệp định quy định cả hệ thống cấp phép ‘tự động’ - chỉ nhằm kiểm soát chứ không nhằm điều chỉnh nhập khẩu, và hệ thống cấp phép ‘không tự động’, theo đó những điều kiện nhất định phải được đáp ứng trước khi cấp giấy phép nhập khẩu. Chính phủ thường sử dụng việc cấp giấy phép ‘không tự động’ để thực hiện các biện pháp hạn chế nhập khẩu, ví dụ, hạn ngạch, hạn ngạch thuế quan (viết tắt là ‘TRQs’), hoặc để quản lí sự an toàn hay những yêu cầu khác (ví dụ, đối với hàng hoá độc hại, vũ khí, đồ cổ v.v.). Những yêu cầu đối với cấp phép nhập khẩu, giấy chứng nhận chất lượng, giấy chứng nhận vệ sinh và giấy chứng nhận các quy định kĩ thuật cũng là đối tượng điều chỉnh của Hiệp định ILP.

Hạn chế định lượng

giải pháp hạn chế định lượng là 1 trong các hàng rào phi thuế quan mà hàng hoá của công ty Việt Nam gặp phải khi thâm nhập vào thị phần quốc tế. Ðây là biện pháp với tính chất bảo hộ rất cao nhằm trực tiếp ngừng khối lượng và giá trị hàng hóa du nhập vào 1 nước.

Cấm nhập khẩu

những nước trên toàn cầu tiêu dùng giải pháp cấm du nhập vì chỉ tiêu kiểm soát an ninh cộng đồng, sức khỏe con người, an ninh quốc phòng, tài nguyên tình cờ… do đócác hàng hóa thuộc danh mục cấm nhập cảng thường là khí giới, đạn dược, thực phẩm cất mầm bệnh, động vật ảnh hưởng hệ sinh thái,…

Hạn ngạch nhập khẩu

Hạn ngạch nhập cảng là cách nước đặt ra mức nhập cảng cho một số loại hàng hoá trong một quá trình cố địnhhiện tại, theo khuynh hướng tự do hoá thương nghiệprộng rãi nước cũng đã dần xoá bỏ cơ chế hạn ngạch.

bên cạnh đócho đến nay hạn ngạch vẫn được vận dụng phổ quát trong hai ngành nghề điểm mạnh của Việt Nam là dệt may và nông sản. Đây là lý do tại sao những đơn vịcông ty thuộc hai lĩnh vực này của Việt Nam rất khó thâm nhập vào thị phần của những nước ứng dụng các biện pháp này.

Tác động đến 1 đất nước của hàng rào phi thuế quan là gì?

 

Nhìn trên tổng thế, thuế quan  cả tác động hăng hái lẫn thụ động cho từng lực lượng ích lợi. Cụ thể:

quan thuế với thể kiểm soát an ninh các dịch vụ trong nước khỏi sự cạnh tranh từ nước ngoài bằng bí quyết làm cho tăng giá thành của hàng nhập khẩu.

mang lại nguồn thu nhập to cho nhà nước, chính phủ.

quan thuế cũng đồng thời khiến cho tăng giá của những mặt hàng nhập cảng trong nước. Điều này ảnh hưởng đến khả năng mua mua hàng nhập khẩu của người dân tại đất nước đó. Giá xe ô tô nhập cảng quá đắt như tại Việt nam hiện giờ chính là một mô tả rõ nhất.

+ Việc vận dụng quan thuế cũng làm cho giảm hiệu quả nói chung của đa số nền kinh tế bởi vì khoản thuế này sẽ khuyến khích những công ty nội địa cung cấp các sản phẩm mà theo lý thuyết với thể được cung cấp 1 cách hiệu quả hơn ở nước ngoài.

Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)