- 1. Cơ sở pháp lý giải quyết tranh chấp lao động
- 2. Nghĩa vụ chứng minh thuộc về ai trong khởi kiện xử lý kỷ luật sa thải trái pháp luật
- 3. Công ty có quyền từ chối cung cấp tài liệu liên quan đến bí mật kinh doanh cho Tòa án?
- 4. Cung cấp chứng cứ là bí mật kinh doanh cho Tòa án mà thông tin này bị lộ thì xử lý như thế nào?
- 5. Yêu cầu áp dụng biện pháp cấm xuất cảnh đối với người đại diện theo pháp luật của công ty
Kính thưa luật sư. Xin luật sư cho biết khi mà nhân viên kiện công ty ra tòa vì đã sa thải trái pháp luật thì nghĩa vụ chứng minh sẽ thuộc về bên nào? Trường hợp để chứng minh thì cần phải xuất trình các tài liệu liên quan đến bí mật kinh doanh có công ty, công ty từ chối cung cấp thì có được không? Và nếu thông qua việc cung cấp các tài liệu liên quan đến bí mật kinh doanh để chứng minh trong vụ án tranh chấp lao động này mà dẫn đến lộ bí mật kinh doanh của công ty thì sẽ giải quyết như thế nào? Trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động, nhân viên (nguyên đơn) có được yêu cầu Tòa ra quyết định cấm xuất cảnh đối với người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp công ty hay không? Rất mong nhận được tư vấn từ luật sư. Tôi xin cảm ơn!
Người hỏi: Minh Hằng - Hà Nội
1. Cơ sở pháp lý giải quyết tranh chấp lao động
- Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
- Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 sửa đổi 2020
- Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước 2017
2. Nghĩa vụ chứng minh thuộc về ai trong khởi kiện xử lý kỷ luật sa thải trái pháp luật
Về nguyên tắc trong tố tụng dân sự thì đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp. Song tại khoản 1 Điều 91 Bộ luật tố tụng có quy định các trường hợp ngoại lệ mà nghĩa vụ chứng minh không thuộc về bên yêu cầu đó là:
- Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bị kiện có nghĩa vụ chứng minh không có lỗi gây ra thiệt hại theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
- Đương sự là người lao động trong vụ án lao động mà không cung cấp, giao nộp được cho tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ thì người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án.
Người lao động khởi kiện vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụng lao động;
- Các trường hợp pháp luật có quy định khác về nghĩa vụ chứng minh.
Như vậy, trong trường hợp quý khác thắc mắc, có thể thấy rằng dựa trên cơ sở quy định của điêm b khoản 1 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về công ty. Công ty sẽ phải chứng minh được việc đưa ra quyết định sa thải đúng theo quy định của pháp luật lao động về cơ sở áp dụng hình thức kỷ luật sa thải, về trình tự, thủ tục tiến hành xử lý kỷ luật sa thải.
3. Công ty có quyền từ chối cung cấp tài liệu liên quan đến bí mật kinh doanh cho Tòa án?
Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; hết thời hạn này mà không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Nếu không thực hiện yêu cầu của tòa án mà không có lý do chính đáng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. (Lưu ý, bị xử phạt song nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho tòa án vẫn phải thực hiện, không được miễn).
Theo đó, chỉ khi có lý do chính đáng thì người sử dụng lao động mới được phép từ chối cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì như thế nào được coi là "lý do chính đáng" thì chưa được hướng dẫn cụ thể. Liệu rằng "vì lý do là tài liệu liên quan đến bí mật kinh doanh có công ty" có là lý do chính đáng để công ty không cung cấp tài liệu chứng minh?
Về vấn đề này Bộ luật tố tụng đã có quy định như sau:
"Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải giữ bí mật nhà nước .....giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ." (khoản 3 Điều 13)
"2. Tòa án không công khai nội dung tài liệu, chứng cứ có liên quan đến bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu chính đáng của đương sự...
Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng phải giữ bí mật tài liêu, chứng cứ thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này theo quy định của pháp luật" (khoản 2, 3 Điều 109)
Qua đó có thể thấy rằng, quá trình xét xử tại Tòa án đã có cơ chế rõ ràng về vấn đề bảo mật thông tin, trong đó đảm bảo không làm lộ tài liệu liên quan đến bí mật kinh doanh của doanh nghiệp theo yêu cầu của doanh nghiệp. Đồng thời cũng quy định rõ hậu quả pháp lý đối với hành vi làm tiết lộ này càng làm tăng hiệu quả triệt để của cơ chế bảo đảm này. Do đó, "vì lý do đó là tài liệu liên quan đến bí mật kinh doanh" mà không cung cấp chứng cứ cho tòa án sẽ không được xem xét là lý do chính đáng để công ty có thể từ chối cung cấp các tài liệu,c hứng cứ theo quyết định của Tòa án. Nếu doanh nghiệp cố tình không cung cấp thì có thể phải chịu trách nhiệm đối với hành vi cản trở hoạt động tư pháp theo quy định tại khoản 3 Điều 489 Bộ luật tố tụng dân sự. Và với hành vi vi phạm này theo quy định tại Điều 48 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 sửa đổi năm 2020, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền phạt tiền đến 2 triệu đồng, Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện, Chánh án tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp tỉnh có quyền phạt tiền đến 15 triệu đồng và Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh có quyền phạt tiền đến mức tối đa trong lĩnh vực lao động là 150 triệu đồng.
Lưu ý, truy cứu trách nhiệm hình sự không đặt ra đối với pháp nhân thương mại đối với hành vi từ chối cung cấp tài liệu (căn cứ quy định tại Điều 76 và Điều 383 Bộ luật hình sự)
4. Cung cấp chứng cứ là bí mật kinh doanh cho Tòa án mà thông tin này bị lộ thì xử lý như thế nào?
Theo như mục 3 đã phân tích, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải bảo đảm giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh của đương sự theo yêu cầu chính đáng của đương sự. Do đó, nếu việc lộ thông tin bí mật kinh doanh của doanh nghiệp gây thiệt hại cho doanh nghiệp vì đã cung cấp cho Tòa án thì trong trường hợp này Nhà nước sẽ có trách nhiệm bồi thường cho doanh nghiệp nếu có đủ căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước 2017 (có một trong các căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra thiệt hại và yêu cầu bồi thường tương ứng; có thiệt hại thực tế của người bị thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại). Cơ quan giải quyết bồi thường là Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Sau đó, người thi hành công vụ có hành vi làm lộ thông tin bí mật kinh doanh của doanh nghiệp sẽ phải hoàn trả cho ngân sách nhà nước khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho doanh nghiệp (điểm c khoản 2 Điều 14 Luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước 2017).
5. Yêu cầu áp dụng biện pháp cấm xuất cảnh đối với người đại diện theo pháp luật của công ty
Khoản 1 Điều 111 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 Bộ luật này để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án. Trong các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 Bộ luật tố tụng dân sự có biện pháp "Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ". Tuy nhiên, như trên đã nêu, việc đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được xem xét chấp nhận nếu đương sự yêu cầu cho thấy đó là biện pháp cần thực hiện để giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án.
Thực tế thì yêu cầu của người lao động trong trường hợp này ít khi được tòa án chấp nhận.
Và nếu trong trường hợp Tòa án có thẩm quyền ra quyết định giải quyết vụ án là công ty không sa thải trái pháp luật thì người lao động yêu cầu áp dụng biện pháp cấm xuất cảnh đối với người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là không đúng thì người lao động phải bồi thường thiệt hại cho doanh nghiệp thì phải bồi thường (khoản 1 Điều 113 Bộ luật tố tụng dân sự).
Trên đây là tư vấn của chúng tôi đối với yêu cầu giải đáp của khách hàng về "nghĩa vụ chứng minh khi người lao động kiện công ty sa thải trái pháp luật". Bạn đọc có vướng mắc pháp lý khác cần hỗ trợ vui lòng liên hệ với chúng tôi qua Hotline 1900.6162 để được gặp và trao đổi trực tiếp với luật sư nhận tư vấn nhanh chóng và chính xác nhất. Rất mong nhận được sự hợp tác!
Luật Minh Khuê (Tổng hợp và phân tích)