NỘI DUNG TƯ VẤN:

1. Lịch sử pháp lý của việc kiểm tra, giám sát của các cơ quan dân cử đối với hoạt động thi hành án hình sự

Theo pháp luật của Nhà nước ta, các cơ quan dân cử là các cơ quan mà việc hình thành nên nó là do người dân “cử ra” thông qua hình thức bỏ phiếu kín. Các cơ quan dân cử bao gồm các cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội và cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương như Hội đồng nhân dân các cấp. Điều 6 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi) quy định “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. Điều 1 Luật tổ chức Quốc hội đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25/12/2001 quy định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam... Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đôi với toàn bộ hoạt động của Nhà nước”. Điều 119 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi) quy định “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”. Như vậy, theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, các cơ quan dân cử có quyền thực hiện sự giám sát đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước ỏ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xuất phát từ bản chất của Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều 2 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngủ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Như vậy, suy cho cùng, sự giám sát của các cơ quan dân cử cũng là biểu hiện vai trò giám sát của nhân dân, tuy nhiên nhân dân giám sát thông qua cơ quan đại diện cho quyền lực của nhân dân. Sự khác nhau giữa hoạt động giám sát của Quốc- hội so với hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp ở chỗ Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước, trong đó có sự giám sát đối với cả hoạt động của Hội đồng nhân dân, còn Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện quyền giám sát trước hết trong phạm vi địa phương của mình. Ngoài ra, hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân còn có sự khác nhau về phương thức, cách thức thực hiện.

Trước hết, với tư cách là một hệ thống cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ thi hành các bản án và qụyếị định của Tòa án, hoạt động tuân theo pháp luật của các cơ quan thi hành án về hình sự cũng là đối tượng của hoạt động giám sát của Quốc hội. Về phương pháp luận, Quốc hội giám sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thi hành án hình sự cũng tương tự như giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước khác. Tuy nhiên, với tư cách là thực hiện quyền giám sát tối cao trong khi hoạt động của các cơ quan thi hành án hình sự lại là đối tượng kiểm tra, giám sát của nhiều cơ quan nhà nước khác nên trong nội dung cũng như phương thức giám sát của Quốc hội đối với hoạt động thi hành án hình sự cũng có những điểm đặc trưng riêng. Có thể nhận định rằng Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao cũng như thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình thông qua những hình thức hoạt động do Hiến pháp và pháp luật quy định. Theo Điều 4 Luật tổ chức Quốc hội quy định “Quốc hội tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số. Hiệu quả hoạt động của Quốc hội được bảo đảm bằng hiệu quả của các kỳ họp của Quốc hội, hoạt động của uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội". Như vậy có thể thấy rằng, Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao của mình thông qua các phương thức cơ bản như: giám sát thông qua kỳ họp, giám sát thông qua hoạt động của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và các ủy ban khác của Quốc hội, giám sát thông qua hoạt động của các đoàn đại biểu Quốc hội và qua hoạt động của các đại biểu Quốc hội. Với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, Hội đồng nhân dân các cấp cũng thực hiện quyền giám sát của mình thông qua các phương thức như thông qua kỳ họp của Hội đồng nhân dân, thông qua hoạt động của các đại biểu Hội đồng nhân dân.

2. Lịch sử pháp lý của hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát đối với hoạt động thi hành án hình sự

Có thể nói rằng, hoạt động kiểm sát thi hành án có cơ sở lý luận và thực tiễn xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn của chức năng kiểm sát tư pháp và thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát.

2.1 Giai đoạn 1958 - 1963

Ngay từ những năm đầu thành lập cơ quan Công tố ở Việt Nam giai đoạn 1958 - 1959, hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thi hành án hình sự trong việc thi hành những bản án và quyết định của Tòa án là một trong những nhiệm vụ của Viện Công tố. Việc thành lập Viện Công tố ở Việt Nam được coi là lần cải cách tư pháp thứ hai ỏ Việt Nam. Ngày 29/4/1958, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khóa 8 đã ra Nghị quyết về việc thành lập Viện Công tố và hệ thống cơ quan Công tố tách khỏi Bộ Tư pháp, đặt Viện Công tố trung ương trực thuộc Hội đồng Chính phủ và có trách nhiệm, quyền hạn ngang hàng như một bộ. Trên cơ sở Nghị quyết của Quốc hội, ngày 01/7/1958, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị quyết số 256-TTg quy định nhiệm vụ và tổ chức của Viện Công tố. Viện Công tố có các nhiệm vụ chung và nhiệm vụ cụ thể: về nhiệm vụ chung là giám sát việc tuân thủ và chấp hành pháp luật của Nhà nước, truy tữ theo luật hình những kẻ phạm pháp để bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tài sản công, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm cho công cuộc kiến thiết và cải tạo XHCN tiến hành thuận lợi. Về các nhiệm vụ cụ thể, Viện Công tố có các nhiệm vụ cụ thể sau đây:

  • Điều tra, truy tố trước Tòa án những kẻ phạm pháp về hình sự;
  • Giám sát việc chấp hành luật pháp trong công tác điều tra của Cơ quan điều tra;
  • Giám sát việc chấp hành pháp luật trong việc xét xử của Tòa án;
  • Giám sát việc chấp hành pháp luật trong việc thi hành các bản án về hình sự, dân sự, và trong hoạt động của cơ quan giam giữ và cải tạo;
  • Khởi tố và tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng có liên quan đến lợi ích của Nhà nước và của công dân.

Năm 1959, Nhà nước ta ban hành Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, thay thế cho Hiến pháp năm 1946. Hiến pháp năm 1959 đã quy định về hệ thông cơ quan Viện kiểm sát nhân dân - một sự thay đổi quan trọng trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, ngày 15/7/1960, Quốc hội đã thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và được Chủ tịch nước công bố ngày 26/7/1960, quy định việc thành lập hệ thống Viện kiểm sát nhân dân ở miền Bắc. Việc thành lập hệ thống Viện kiểm sát nhân dân là một yêu cầu khách quan của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước tạ. Điều này đã được Đảng khẳng định qua Nghị quyết số 68 ngày 01/02/1963 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lao động Việt Nam. Nghị quyết số 68 nhấn mạnh: “Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa được giữ vững là điều kiện cần thiết để tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đến toàn thắng”. Cũng chính vì lý do này mà tổ chức và hoạt động của Viện Công tố không còn phù hợp nữa. Tờ trình về Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dần năm 1960 đã nêu rõ: “Nhu cầu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, đòi hỏi một sự nhất trí về mục đích và hành động trong nhân dân, giữa nhân dân và Nhà nước củng như giữa các ngành hoạt động nhà nước với nhau. Nếu không đạt được sự thống nhất trong việc chấp hành pháp luật thì sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa sẽ gặp khó khăn. Vì lẽ trên phải tổ chức ra Viện kiểm sát nhân dân đê kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm giữ vững pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”. Cơ sồ lý luận và thực tiễn về việc thành lập cơ quan Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam còn là thể hiện sự kế thừa quan điểm của Lênin về bảo vệ tính thống nhất của pháp chế và sự ra đời của hệ thống Viện kiểm sát nhân dân ở Liên Xô thời bấy giờ. Viện kiểm sát nhân dân ra đời với chức năng được Hiến pháp ghi nhận. Điều 105 Hiến pháp năm 1959 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Việt Nam dận chủ cộng hòa kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đổng Chính phủ, cơ quan nhà . nước địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân. Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự có quyền kiểm sát trong phạm vi do luật định”. Tại Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 quy định:

“Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp thi hành nhiệm vụ trên bằng cách:

... d. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của Tòa án nhân dân và trong việc chấp hành các bản án.

e. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam giữ của các trại giam”.

2.2 Trong giai đoạn tiếp theo:

Trải qua những năm thành lập và hoạt động từ năm 1960 đến nay, ngành Kiểm sát nhân dân với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ỏ Việt Nam. Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát tiếp tục được quy định trong các Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân vào các năm sau đó như Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981, 1989 (sửa đổi, bổ sung), 1992 và 2002. Cùng với việc tiếp tục quy định chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát, công tác kiểm sát việc thi hành các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân cũng được tiếp tục khẳng định và là một nội dung quan trọng của chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, góp phần bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Do những yêu cầu khách quan, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 được ban hành để thay thế Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1992. Trên cơ sở Hiến pháp sửa đổi năm 2002 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, chức năng của Viện kiểm sát nhân dân được điều chỉnh theo hưóng nhấn mạnh chức năng thực hiện quyền công tố, thu hẹp phạm vi của chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức nàng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Để cụ thể hóa việc thực hiện chức năng trên các lĩnh vực khác nhau, Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định:

“Viện kiểm sát nhăn dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ bằng những công tác sau đây:

... 5. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án nhân dân...”.

Như vậy, theo quy định của pháp luật, công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động thi hành án là một công tác nhằm thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát. Hiện nay, đang có những quan điểm cho rằng bản chất của hoạt động thi hành án nói chung và thi hành án hình sự nói riêng không phải là hoạt động tư pháp mà chỉ là hoạt động hành chính - tư pháp, điều này có nghĩa là hoạt động thi hành án không phải là Đối tượng kiểm sát của chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát. Chúng tôi cho rằng vấn đề xác định về phương diện lý luận của khái niệm như thế nào là hoạt động tư pháp là một vấn đề phức tạp, cần được xem xét không chỉ trên phương diện lý luận đơn thuần mà cả trên phương diện lịch sử. Tuy nhiên trên cơ sở pháp luật thực định, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 đã cụ thể hóa các lĩnh vực là đối tượng kiểm sát của Viện kiểm sát để thực hiện hai chức năng của Viện kiểm sát là chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, trong đó rõ ràng công tác kiểm sát việc thi hành các bản án và quyết định của Tòa án là một công tác để nhằm thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp. Điều 23 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 đã quy định rõ:

“Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhân dân, Cơ quan thi hành án, Chấp hành viên, cơ quan tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan trong việc thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và những bản án và quyết định được thi hành ngay theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm các bản án và quyết định đó được thi hành đúng pháp luật, đầy đủ, kịp thời”.

2.3 Nhận định:

Theo quy định này, khi thực hiện công tác kiểm sát thi hành án, các Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật không chỉ đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức mà cả đối với công dân là những người có liên quan đến việc thi hành các bản án và quyết định của Tòa án, trong đó có cả các đương sự là những người phải thi hành bản án và quyết định của Tòa án cũng như người được thi hành bản án và quyết định đó. Tuy nhiên, trong số các chủ thể là đối tượng kiểm sát của Viện kiểm sát khi thực hiện công tác kiểm sát thi hành án, đối tượng kiểm sát cơ bản và trọng tâm là hoạt động tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức và đơn vị trong hoạt động thi hành án, bởi lẽ, nếu để xảy ra vi phạm pháp luật trong cơ quan nhà nước thì hậu quả của nó lớn hơn gấp nhiều lần so với một vi phạm của công dân. Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát đối với hoạt động thi hành án là hoạt động do Hiến pháp quy định, được cụ thể hoá trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 hiện hành và được ghi nhận trong các đạo luật khác có liên quan như trong BLTTHS, Pháp lệnh thi hành án phạt tù, Pháp lệnh thi hành án dân sự... Đó là những căn cứ pháp lý của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với hoạt động thi hành bản án và quyết định của Tòa án, với tư cách là một công tác kiểm sát nhằm thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email [email protected] để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê