1. Giới thiệu về Alfred Marshall và Leon Walras

Khi Alfred Marshall là một nhân vật nổi bật trong kinh tế học cổ Điển ở Anh khi chuyển sang thế kỷ mới, thì Leon Walras là nhà kinh tế học hàng đầu ở châu Âu. Tác động chung của Leon Walras (1834—1910) và Alfred Marshall (1842-1924) đối với các nhà kinh tế học thế kỷ 20 và phân tích kinh tế thật khó đánh giá, so sánh cao thấp. Khuôn khổ những phát triển trào lưu chính kinh tế vi mô đương đại, phân tích cân bằng tổng quát và nhiều lĩnh vực khác nơi cần có lý thuyết thượng tầng kiến trúc (lý thuyết Tiền tệ chẳng hạn) đều dấu ấn của Walras và Marshall. Vì nhiều lí do khác nhau mà Walras và Marshall được xem như hai lý thuyết gia quan trọng nhất trong thời các ông trong lĩnh vực kinh tế học.

Alfred Marshall (26 tháng 7 năm 1842 - 13 tháng 7 năm 1924) là một nhà kinh tế học người Anh, ông là một trong những nhà kinh tế học có ảnh hưởng nhất trong thời đại của ông. Cuốn sách của ông, Các nguyên tắc kinh tế (1890), là sách giáo khoa kinh tế thống trị ở Anh trong nhiều năm. Nó đưa các ý tưởng về cung và cầu , tiện ích cận biên và chi phí sản xuất thành một tổng thể thống nhất. Ông được biết đến như một trong những người đặt nền móng cho kinh tế học tân cổ điển .

Marie-Esprit-Léon Walras (16 tháng 12 năm 1834 - 5 tháng 1 năm 1910) là một nhà kinh tế toán học người Pháp và người Georgist. Ông xây dựng lý thuyết giá trị cận biên (độc lập với William Stanley Jevons và Carl Menger ) và đi tiên phong trong việc phát triển lý thuyết cân bằng tổng quát . Walras được biết đến nhiều nhất với cuốn sách Éléments d'économie politique tinh khiết, một công trình đã đóng góp rất nhiều vào việc toán học hóa kinh tế học thông qua khái niệm cân bằng tổng quát. Định nghĩa về vai trò của doanh nhân trong đó cũng được Schumpeter tiếp thu và khuếch đại .

Đối với Walras, việc trao đổi chỉ diễn ra sau khi Walrasian tatonnement (tiếng Pháp có nghĩa là "thử và sai"), do người đấu giá hướng dẫn, giúp nó có thể đạt được trạng thái cân bằng trên thị trường. Chính sự cân bằng chung có được từ một giả thuyết duy nhất, hiếm có, đã khiến Joseph Schumpeter coi ông là "nhà kinh tế vĩ đại nhất trong số các nhà kinh tế học". Khái niệm cân bằng tổng quát đã được các nhà kinh tế lớn như Vilfredo Pareto , Knut Wicksell hay Gustav Cassel chấp nhận rất nhanh chóng . John Hicks và Paul Samuelson đã sử dụng sự đóng góp của Walrasian trong việc xây dựng tổng hợp tân cổ điển. Về phần mình, Kenneth Arrow và Gérard Debreu, từ quan điểm của một nhà logic học và một nhà toán học, đã xác định các điều kiện cần thiết cho trạng thái cân bằng.

2. Phân biệt quan điểm của Marshall và Walras

Việc thỏa luận những đóng góp của Marshall và quan điểm của Walras là điều nên làm để làm tương phản những khác biệt cơ bản giữa hai bậc đại gia trong phân tích kinh tế Tân cổ Điển. Mặc dù họ là những người cùng thời, nhưng Walras là một chính khách lão thành, theo nghĩa tuổi đời và ưu thế khám phá. Nhưng chính lĩnh vực và phương pháp trong thành tựu lý thuyết của từng người mới cung cấp được những hình thức tương phản.

Thật khó hình dung khi hai người có những đóng góp không giống nhau, làm thay đổi những khía cạnh khác nhau đối với trào lưu phân tích kinh tế đương đại.Tác phẩm nổi tiếng của họ Elements of Pure Economics (1874) của Walras và Principles of Economics (1890) của Marshall - xuất bản gần như cách nhau 20 năm, mỗi tác phẩm đều có tác động ấn tượng trong kinh tế học. Mỗi tác phẩm cũng như mỗi người đều có sự khác nhau.

3. Cơ sở kinh tế vi mô của việc hình thành giá

Thứ nhất, cả hai tác giả về cơ bản đều quan tâm cơ sở kinh tế vi mô của việc hình thành giá. Nghĩa là, họ cùng với Cournot, Dupuit và những người khác trước họ - xem tiến trình cân bằng giá và số lượng như kết quả của sự trao đổi thị trường (mặc dù như chúng ta thấy quan điểm của họ về phương pháp điều chỉnh giá cả và số lượng đều khác nhau). Sự khác nhau cơ bản giữa Walras và Marshall tập trung vào lĩnh vực đối tượng phân tích. Marshall, và trong thực tế tất cả tác giả viết về kinh tế vi mô trước ông, đều sử dụng một quy ước giải quyết các thị trường cụ thể ngày nay được gọi là phân tích căn bằng từng phần. Walras, trái lại phát triển một phương pháp phức tạp hơn, bao quát hơn khi nghiên cứu thị trường được gọi là phân tích căn bằng tổng quát.

Khác nhau quan trọng giữa Marshall và Walras về điểm này về cơ bản là đơn giản, mặc dù có sự thảo luận phức tạp. Về cơ bản, khi người ta nghiên cứu thị trường theo nghĩa cân bằng từng phần kiểu Marshall, thì người ta nghiên cứu xem thị trường ấy có nằm trong sự biệt lập chuẩn hay không. Chẳng hạn, cho thị trường dành cho bất kỳ hàng hóa chẳng hạn như nước cam ép. Trong cả hai quan điểm của Marshall và Walras, giá cân bằng và số lượng nước cam ép được quyết định bằng điểm giao nhau giữa hàm cầu và hàm cung (Walras gọi hàm cung là “đường cong báo giá”). Các tác giả này khác nhau ở chỗ yếu tố quyết định các đường cong cung cầu và cơ giới của tính cân bằng thị trường.

Trong thuyết minh của ông về hàm cầu cá nhân đối với nước cam ép, Marshall đã làm cho nhu cầu có một hàm không chỉ là hàm giá nước cam ép mà còn là hàm giá quả cam, giá của những thứ thay thế và bổ sung vào nước cam ép, và thu nhập cũng như khẩu vị của người tiêu dùng. Tất cả những yếu tố khác ảnh hưởng đến nhu cầu nước cam ép (giá của hàng hóa liên quan xa, sự tương tác thị trường đối với sự thay đổi giá nước cam ép, v.v...) đều giữ nguyên không đổi hay bị xem nhẹ. Vì thế, Marshall sử dụng cách đánh giá rộng bằng giả định điều kiện khác khi giải quyết các nhu cầu cá nhân và thị trường đối với bất cứ hàng hóa cụ thể nào. Bằng cách này ông cũng thuyết minh các đường cong cầu cá nhân và thị trường. Vì thế, Marshall xem nhẹ hay có vẻ không áp dụng những yếu tố quyết định có liên quan xa hay không liên quan của giá cả và số lượng của bất kỳ hàng hóa cụ thể sao cho những điểm chính của thị trường cá nhân có thể bị cô lập để nghiên cứu. Phương pháp cân bằng từng phần này đã được Jenkin, Cournot, Dupuit, và nhiều người khác sử dụng trước cả Marshall.

Walras, trái lại, công kích vấn đề giá trị theo cách khác. Ông quan tâm đến sự tương thuộc đang tồn tại giữa hai thị trường nhiều hơn. Theo quan điểm của ông, những mối tương quan này tồn tại bởi vì tiến trình đánh giá ở các thị trường nên tiến hành cùng lúc. Walras khẳng định bất kỳ ai không tối đa hóa sự thỏa mãn của mình sẽ có mức cầu thái quá (được định nghĩa phần dưới) đối với một số hàng hóa, trong đó có nước cam ép, và mức cung quá lượng các hàng hóa khác. Đối tượng trao đổi là phải tối đa hóa sự thỏa mãn, theo Walras muốn nói sự tùy ý sử dụng mức cung quá lượng để loại bỏ mức cầu thái quá. Vì thế, mỗi hành động trao đổi đều ảnh hưởng đến giá trị của tất cả hàng hóa trong hệ thống kinh tế. Tương tự, Walras xem khía cạnh sản xuất và đầu vào của hoạt động kinh tế như các khía cạnh tương quan. Thật ra, sự tương thuộc của toàn bộ hệ thống sản xuất và tiêu dùng là nội dung quyển Elements của Walras.

Khi ấy, Walras làm thế nào để mô tả thị trường nước cam ép? Ông lập luận rằng giả định điều kiện khác của Marshall hoàn toàn không thích hợp bởi lẽ những vấn đề khác không ngang bằng. Đúng ra, toàn bộ hệ thống có mối liên hệ với nhau, sao cho sự gia tăng nhu cầu nước cam ép nhất thiết có nghĩa có những nhà cung cấp quá lượng các hàng hóa khác trong hệ thống. Do đó, bất cứ sự thay đổi nào về giá nước cam ép sẽ có ảnh hưởng đến thị trường khác (như cắt tóc) và phản ứng ngược lại thị trường nước cam ép và tạo ra nhiều thay đổi hơn nữa. Những mối liên hệ cơ bản này của mọi thị trường, mà Marshall xem nhẹ, hình thành trọng tâm trong hệ thống Walras. Vì thế, ở mức độ lý thuyết trừu tượng, Walras lập luận phân tích thị trường nước cam vắt - cách biệt với tất cả những biến số khác trong hệ thống là không thích hợp. Trái với tiếp cận cân bằng từng phần của Marshall, phương pháp của Walras là tiếp cận cân bằng tổng quát.

4. Một số đối kháng học thuyết đối với phương pháp

Tất cả những điều này không phải ngụ ý rằng Marshall và Walras không nhận thức hay không có khả năng sử dụng hệ thống của nhau. Thực ra, Marshall, trong khi hoàn thiện học thuyết cầu tương hỗ của Mill, tạo ra một mô thức cân bằng tổng quát ở hai hàng hóa, hai quốc gia để quyết định giá trị quốc tế. Thế nhưng, trong Principles, ông chọn phân tích cân bằng từng phần như một phương pháp thích hợp để giải quyết thị trường chọn lọc trong một thế giới phức tạp. Thậm chí ông không hề phủ nhận sự chính xác trong hệ thống Walras.

Walras, mặt khác rất cương quyết, thậm chí thô lỗ trong việc chỉ rõ những gì mà ông cho là sai lầm của Marshall. Mặc dù Walras không bị phản đối do sử dụng đường cong cầu đôi với hàng hóa cụ thể, nhưng ông từ chối việc sử dụng những đường cong như thế nếu chúng loại trừ tính tương thuộc hiệu dụng và nhu cầu đối với tất cả hàng hóa. Ong cũng cực lực phủ nhận ẩn ý nhận dạng hiệu dụng biên tế với nhu cầu, một thông lệ mà Dupuit khởi xướng. Thật ra, ý kiến bảo lưu của Walras thường nhắm vào Dupuit và Marshall.

5. Khái niệm nhu cầu

Trong một lá thư gửi người bạn cùng thời Maffeo Pantaleoni, Walras chỉ rõ sự phân tích trao đổi mà ông nghiên cứu các hàm cầu bao gồm nhiều biến số độc lập và đây là sự khác biệt cơ bản giữa khái niệm nhu cầu của chính ông và khái niệm nhu cầu của Dupuit, Marshall, và lý thuyết gia người Áo lỗi lạc, và hai người nổi tiếng là Rudolph Auspitz và Richard Lieben (Correspondence. Thư 379 và 465). Walras đồng nhất phát biểu có hệ thống về nhu cầu của Marshall với phát biểu của Dupuit, và ông cho rằng Dupuit và Marshall đều cố gắng không chính đáng trong việc giải thích đường cong cầu theo nghĩa đường cong hiệu dụng (biên tế). Cũng như đối với vai trò của riêng ông trong lý thuyết giá trị, ông tự xem mình là người đầu tiên chứng minh sự tương tác giữa công cụ nhu cầu của Cournot (không có trang bị hiệu dụng) và lý thuyết mức độ hiệu dụng sau cùng của Jevons. Tuy nhiên hầu hết phản đối của Walras về lý thuyết nhu cầu của Dupuit- Marshall đều không có cơ sở, vì trong trường hợp này ông không đánh giá sự thuận tiện (và tính hữu dụng) của quy ước điều kiện khác trong lý thuyết cân bằng từng phần.

Thật kỳ lạ, Walras hầu như luôn xúc phạm khi nói về Marshall. Dường như ông lúc nào cũng tìm thấy giá trị trong tác phẩm của các nhà kinh tế học thuộc châu lục khác, nhưng đối với Jevons thì không. Các tác giả người Anh thường là đối tượng bị công kích. Ví dụ, Walras miễn trừ Jevons và Gossen khỏi sự buộc tội cân bằng từng phần vì họ không cố gắng suy luận đường cong cầu từ đường cong hiệu dụng. Nhưng ông gọi Marshall là “con bạch tượng khổng lồ của kinh tế chính trị học”, công kích ông ta cùng người bạn đồng nghiệp xuất sắc F. Y. Edgeworth vì cố gắng theo cách ganh tỵ và cố chấp nhằm bênh vực lý thuyết Tiền tệ của Ricardo và Mill (Correspondence, thư 1051).

Một phần vấn đề dĩ nhiên là thực tế Walras và Marshall phát triển phân tích của mình, soạn sách dành cho hai đối tượng độc giả khác biệt nhau. Mục đích Marshall công khai thú nhận khi viết Principles là thông báo các công cụ và sử dụng cơ bản phân tích kinh tế cho người không chuyên môn có trí năng, và nhất là giới kinh doanh. Do đó, hầu hết phân tích chính thức trong sách có vẻ như các chú thích cuối trang hay trong phụ lục. Trái lại, Walras rõ ràng viết cho bạn đồng nghiệp chuyên nghiệp trong ngành. Toán học trong Elements mà Walras dùng để bao bọc lý thuyết của ông quả thật đáng gờm, cũng đáng ngờ liệu ngoài một vài lý thuyết gia hàng đầu thế giới năm 1874 thì còn có ai đủ sức để hiểu hết quyển sách ấy hay không (Marshall có lẽ một trong số này). Chắc chắn những khác biệt đều là cơ bản trong việc hiểu biết sự chấp nhận tương đối của hai tác phẩm trong ngành. Có thể điều quá dễ hiểu là giữa Marshall và Walras hầu như hoàn toàn không có liên lạc với nhau. Mặc dù có những khác biệt về văn hóa và lý thuyết, điều quan trọng là phải làm quen với tư tưởng của những người được xem là hai nhà lý thuyết kinh tế nổi tiếng nhất trong lịch sử.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)