1. Thuật ngữ "người tìm kiếm lợi thu được"

Thuật ngữ “người tìm kiếm lợi thu được” hoàn toàn là khái niệm ngụ ý hành vi tư lợi của bất kỳ hay tất cả các bên đối với sự phân phối thu nhập. Khi áp dụng vào cách phân tích điều tiết kinh tế đương đại, quan niệm cho rằng, trong quyền lợi của chính mình, các nhà chính trị (thành viên nghị viện, quốc hội, các nhà lập pháp nhà nước, ủy viên hội đồng thành phố, v.v...) sẽ cung cấp đặc quyền độc quyền và điều tiết của chính phủ cho cá nhân kinh doanh hay thương gia hay bất kỳ nhóm nào mà tư lợi của họ dẫn đến việc phải yêu cầu điều tiết. Hoạt động tư lợi này (nhất thiết) không có nghĩa các nhà chính trị sẽ chấp nhận thanh toán bằng tiền mặt trực tiếp, mặc dù 'chúng ta sẽ thấy cách thanh toán này phổ biến trong giai đoạn Trọng thương. Thế giới hiện đại khó thấy hơn nhiều. Vì hầu hết các nhà chính trị đều là thành viên của các công ty luật, bảo trợ thông qua phí công ty thuê trả trước là cách khả thi trong việc chấp nhận “thanh toán phụ”, cũng như hứa hẹn các chức vụ lương cao sau khi nhà chính trị rời khỏi nhiệm sở. Phân tích hiện tại tìm kiếm cách giải thích, theo nghĩa phí tổn và lợi ích đối với cá nhân liên quan, sự tồn tại hay khiếm diện của đặc quyền độc quyền trong một số ngành công nghiệp và hoạt động.

Đặc điểm hình thức của phí tổn và lợi ích ở đây không liên quan đến chúng ta, nhưng một vài thí dụ giúp chúng ta hiểu quan điểm tiến trình hoạt động ra sao. Hãy xét “đại diện công nghiệp” hay những người vận động hành lang, như những người yêu cầu điều tiết tiềm năng. Yêu cầu độc quyền của họ từ chính phủ (nghĩa là kiểm soát lối vào và trợ cấp) rõ ràng có liên quan đến việc họ nghĩ đặc quyền ấy mang đến cho mình lợi nhuận nhiều bao nhiêu. Vì thế bất cứ phí tổn áp đặt đối với một công ty điều tiết (nhự thuế và kiểm tra định kỳ) như là khoản bồi thường cho đặc quyền.

2. Sự điều tiết từ phía nhà cung cấp

Lúc này hãy xét sự điều tiết từ phía nhà cung cấp. Quan điểm kinh tế hiện đại cho chúng ta biết rằng các nhà chính trị sẽ tối đa hóa tư lợi (nghĩa là bầu cử lại và thanh toán phụ) bằng cách cung cấp điều tiết để đổi lấy tiền và phiếu bầu. về cơ bản, vấn đề của những nhóm hay các cá nhân này là phải khắc phục phí tổ chức một lực lượng vận động hành lang hiệu quả. Những nhóm lớn, chẳng hạn như nhà bán lẻ, thường không thể khắc phục phí tổn cao của việc kết hợp để thành lập một hành lang vận động hiệu quả, trong khi các nhóm nhỏ có thể có vị trí thuận lợi hơn trong tổ chức vận động hành lang. Các nhà chính trị điều tiết sẽ tìm cách cung cấp nhiều bao nhiêu tùy vào phí tổn và lợi ích của hành động như thế cùng với sự liên kết và tổ chức phí tổn cần thiết để cung cấp điều tiết thực sự. Thông thường nhóm càng lớn đòi hỏi thông qua ban hành pháp luật quyền lợi đặc biệt, thì phí tổn liên kết càng cao.

Vì thế, sự điều tiết có thể xem là “tốt” được cung cấp và yêu cầu như hàng hóa khác. Sự giảm lợi ích tịnh đối với những người đấu tranh để có được sự điều tiết, những vấn đề khác cũng tương tự, dẫn đến sự giảm sút số điều tiết được yêu cầu. Cũng làm như thế, sự gia tăng phí tổn cung cấp điều tiết - chẳng hạn khi khả năng cung cấp điều tiết được chuyển từ một cá nhân riêng lẻ (vua hay nhà độc tài) sang một nhóm các cá nhân (đại biểu quốc hội hay ủy viên hội đồng thành phố) có nghĩa là chúng ta nghĩ đến sự cung cấp điều tiết phải thấp hơn và số lượng điều tiết cân bằng phải ít hơn. Trong giai đoạn Trọng thương, động cơ của những người Trọng thương là phải tìm sự điều tiết được cung cấp bằng viễn cảnh có được đặc quyền độc quyền, nghĩa là sự bảo hộ của nhà nước. Trong khía cạnh này, tính logic kinh tế của chủ nghĩa Trọng thương tương tự như tính logic phía sau hoạt động kinh tài của thời hiện đại. Một số nhóm (như thợ thủ công lúc đó, hay công ty xe tải hiện nay) sở hữu lợi thế tổ chức vốn có trong vận động hành lang để có sự bảo hộ điều tiết của nhà nước khỏi bị cạnh tranh (như Đạo luật thợ thủ công lúc đó, hay ủy ban thương mại liên bang ngày nay) liên quan đến các nhóm khác, chẳng hạn như người tiêu dùng nói chung. Thường lợi thu được của các nhóm thành công là sự chuyển giao của cải từ người tiêu dùng sang sản phẩm được điều tiết.

3. Thuật ngữ “cartel” cũng thường dùng trong thuyết điều tiết

Thuật ngữ “cartel” cũng thường dùng trong thuyết điều tiết và trong ứng dụng của thuyết ấy đối với chủ nghĩa Trọng thương. Một cartel - quen thuộc nhất là cartel OPEC - đơn thuần là sự kết hợp chính thức giữa các công ty hoạt động như một nhà độc quyền riêng lẻ dưới một hình thức kiểm soát tập trung. Giá cả và/hoặc phần sản lượng thông thường được phân cho các thành viên trong cartel, và hành vi của họ trong một số cách được giám sát hay khống chế. Các điều kiện luôn bị hạn chế. Caratel có thể do nhà nước hoặc tư nhân tổ chức ra. Có một động cơ rõ ràng để gian lận giá cả cartel hay thỏa thuận sản lượng khi chưa có sự phê chuẩn hợp pháp về sự sắp xếp bởi lẽ mỗi công ty phải thu được nhiều kết quả từ việc giảm giá hay bán ra thị trường được phân công bên ngoài. Vì thế cartel tổ chức cá nhân nhất không ổn định, thường có khuynh hướng tan rã qua thời gian. Vì thế sự thủ đắc điều tiết là biện pháp thông thường (và không tốn kém) đối với một ngành công nghiệp tổ chức như một cartel, vì sự điều tiết tạo ra sự thực thi luật pháp liên tục. Qua sự điều tiết, được những phê chuẩn pháp lý hậu thuẫn chống lại “những kẻ gian lận”, chính phủ cố gắng kiểm soát những khoản như trương mục, giá cả hay lợi nhuận.

Trong chủ nghĩa Trọng thương cũ và mới, sự điều tiết kinh tế có thể xem như kết quả của một tiến trình cạnh tranh qua đó các nhóm quyền lợi tìm kiếm sự bảo hộ của nhà nước chống lại cạnh tranh. Trong bối cảnh Trọng thương, các nhóm quyền lợi liên quan một phần là nhóm các nhà cầm quyền địa phương, thương gia và người lao động trong thành phố, một phần là những quyền lợi độc quyền tham gia vào sản xuất, thương mại quốc gia và quốc tế.

4. Điều tiết nội bộ trong chủ nghĩa Trọng thương ở Anh

Điều tiết kinh tế ở mức độ địa phương, quốc gia và quốc tế trong chủ nghĩa Trọng thương ở Anh về cơ bản có hình thức giống như xã hội đương đại. Công ty được cấp giấy phép, và sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp do đó bị hạn chế. Thế nhưng điều quan trọng phải hiểu một số khác nhau cơ bản giữa sự quản lý của các thể chế quanh sự điều tiết địa phương so với quốc gia và sự độc quyền. Sự điều tiết địa phương về thương mại, giá cả và mức lương trong thời đại Trọng thương bắt nguồn từ hệ thống phường hội thời Trung cổ. Sự thúc ép điều tiết các phường hội này trong thời kỳ Tudor trước Elizabeth I là trách nhiệm của chủ nghĩa quan liêu phường hội trong sự kết hợp với bộ máy hành chính của thành phố hay quận huyện. Elizabeth I cố hệ thống hóa và củng cố những điều tiết chi tiết này trong Đạo luật thợ thủ công. Luật này phác họa củng cố nhiệm vụ cụ thể của thẩm phán hòa giải, ủy viên hội đồng thành phố và các nhà cầm quyền địa phương. Thẩm phán hòa giải và những người thực thi điều tiết địa phương khác được trả lương rất thấp hoặc không được trả đồng nào đổi với các dịch vụ này, thực tế dẫn đến những sự liên kết địa phương các quyền lợi kinh tế. Những quyền lợi này sau cùng làm cho sự cung cấp quyền độc quyền ở địa phương trở thành vô hiệu.

5. Chủ nghĩa trọng thương quốc gia

Ở mức độ quốc gia, sự điều tiết công nghiệp được hình thành bằng ba cách: (1) bằng đạo luật của Nghị viện, (2) bằng tuyên bố của hoàng gia và bằng sáng chế, và (3) bằng chiếu chỉ của Hội đồng cơ mật trong “triều đình” của nhà vua. Cũng nên lưu ý thương gia và vua giống nhau ở điểm nhận thức rõ khả năng có thể tìm kiếm lợi thu được. Sự ăn khớp các quyền lợi cá nhân của nhà vua và người độc quyền được trân trọng như một thông lệ ở Anh vào đầu thế kỷ 14, thậm chí còn sớm hơn. Tính chất liên minh này nhấn mạnh trong tranh luận về vấn đề độc quyền trong Hạ viện năm 1601:

“Trước tiên, chúng ta hãy xét từ độc quyền nghĩa là gì, Monos là Unus, còn Polis là Civitas-. Vì thế Ý nghĩa của Từ là sự Hạn chế bất kỳ thứ gì Chung trong một Thành phố hay Thịnh vượng chung, đối với Sử dụng riêng. Và người Sử dụng gọi là một người Độc quyền, quasi, cujus privatum lucrum esturbis et orbis Commune Malun. Chúng ta xem thuật ngữ này là thích hợp cho Người này, Lợi nhuận của Hoàng thân lốc xoáy”. (Tawney và Power, Tudor Economic Docu­ments, II, trang 270).

Những định nghĩa bộc lộ sự độc quyền này và những người độc quyền nhắc chúng ta rằng động cơ của những diễn viên kinh tế thường được nhận biết và không thay đổi qua nhiều thế kỷ. Nhưng có lẽ là sai lầm khi đưa phép loại suy đi quá xa. Mặc dù tính chất cơ bản của chủ nghĩa Trọng thương đôi lúc như nhau, nhưng cũng có những khác biệt quan trọng trong hai môi trường tìm kiếm lợi thu được. Khác biệt quan trọng nhất về mục đích thảo luận ở đây liên quan đến phía cung cấp thị trường đối với luật pháp ban hành điều tiết.

Chủ nghĩa Trọng thương quốc gia được chế độ quân chủ cung cấp, và chế độ quân chủ đại diện cho môi trường duy nhất có phí tổn thất trong việc tìm kiếm lợi thu được, nhất là khi đối chiếu với bối cảnh dân chủ hiện đại nơi quyền lực cung cấp sự ban hành pháp luật điều tiết bị phân tán trong số nhiều nhân vật khác nhau trong chính phủ. Tính hợp nhất quyền lực quốc gia trong nền quân chủ Trọng thương tạo ra cách giải thích logic cho việc tìm kiếm lợi thu được trên diện rộng và điều tiết kinh tế trong giai đoạn lịch sử này của nước Anh. Trong diễn tiến thảo luận của chúng ta, chúng ta sẽ chứng kiến sự phát triển và tiếp quản sau cùng của quyền lực để Nghị viện tạo ra pháp luật điều tiết thay đổi ấn tượng phí tổn và lợi ích đối với người mua và người bán quyền độc quyền trong cách như thế khi dẫn đến sự giảm sút sự điều tiết Trọng thương. Nhưng trước hết chúng ta phải xét mẫu và số phận của sự điều tiết địa phương.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)