1. Đối tượng và điều kiện áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

Trước đây, theo quy định tại Điều 93 BLTTHS năm 2003, đối tượng của biện pháp ngăn chặn này là “Tiền và tài sản có giá trị” và chỉ cho phép bị can, bị cáo đặt tiền để bảo đảm thì nay BLTTHS năm 2015 chỉ quy định đặt tiền (không quy định tài sản có giá trị) và đồng thời cho phép cả người thân thích của bị can, bị cáo cũng có quyền này.

Quy định này đã tháo gỡ được các vướng mắc dẫn đến việc chậm giải quyết vụ án trước đây như vấn đề về định giá tài sản, bảo quản tài sản, xác định tài sản có giá trị, việc chứng minh tài sản hợp pháp của bị can, bị cáo… Bên cạnh đó cũng mở rộng đối tượng được đặt tiền để bảo đảm tạo điều kiện cho bị can, bị cáo có cơ hội được tại ngoại dễ dàng hơn. Thực tế trong khi bị can, bị cáo bị tạm giam, họ gặp rất nhiều khó khăn để có thể thực hiện các thủ tục đặt tiền để bảo đảm cho mình. Do đó, đây là một sự bổ sung phù hợp với thực tiễn pháp lý, tạo điều kiện cho bị can, bị cáo được bảo đảm các quyền lợi chính đáng của mình. Đồng thời cũng tạo sự linh hoạt cho cơ quan tiến hành tố tụng trong việc quyết định chấp nhận đề nghị đặt tiền để bảo đảm, tăng khả năng áp dụng biện pháp này trong thực tiễn.

Tiền đặt để bảo đảm là Việt Nam đồng, thuộc sở hữu hợp pháp của bị can, bị cáo, người thân thích của bị can, bị cáo hoặc người đại diện của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

Mức tiền để bảo đảm do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án quyết định nhưng không dưới: 30 triệu đồng đối với tội phạm ít nghiêm trọng; 100 triệu đồng đối với tội phạm nghiêm trọng; 200 triệu đồng đối với tội phạm rất nghiêm trọng; 300 triệu đồng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Có thể quyết định mức tiền đặt để bảo đảm thấp hơn nhưng không dưới ½ mức tương ứng quy định trên đối với bị can, bị cáo là các đối tượng được ưu tiên theo quy định.

Để áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm, theo quy định những người có thẩm quyền phải xem xét tính toàn diện như tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; phạm tội nhiều lần hay lần đầu; tình trạng tài sản; nhân thân; nơi cư trú rõ ràng của bị can, bị cáo…

2. Thẩm quyền áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

Pháp luật tố tụng hình sự quy định chỉ có những người đứng đầu trong các cơ quan tiến hành tố tụng hoặc cấp phó được cấp trưởng ủy quyền mới có thẩm quyền quyết định việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm. Họ không được ủy quyền việc quyết định này cho cấp dưới (điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán) thực hiện. Ngoài ra, trong trường hợp trước khi mở phiên tòa thì Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa hoặc trong trường hợp tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử cũng có thẩm quyền áp dụng biện pháp này

3. Hủy bỏ việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

Thực hiện trong các trường hợp sau đây: Khi có quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án; đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can; Bị can, bị cáo bị bắt về tội đã phạm trước khi áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm hoặc tiếp tục phạm tội; Bị can, bị cáo chết…

Việc hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm cũng như các trường hợp tịch thu, nộp ngân sách nhà nước tiền đã đặt để bảo đảm thì thực hiện như việc tịch thu sung công quỹ nhà nước đối với vật chứng vụ án theo quy định của pháp luật.

4. Thời hạn áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

Thời hạn đặt tiền được tính theo thời hạn điều tra, truy tố, xét xử. Thời hạn đặt tiền đối với người bị kết án phạt tù được tính đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù. Trong trường hợp gia hạn điều tra, truy tố, xét xử, hoãn thi hành án phạt tù thì thời hạn đặt tiền để bảo đảm được tính theo thời gian gia hạn điều tra, truy tố, xét xử, hoãn thi hành án phạt tù.

Mặc dù pháp luật tố tụng hình sự không quy định cụ thể về thời hạn đặt tiền trong trường hợp bị can, bị cáo đã bị tạm giam trước khi cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm, tuy nhiên trong trường hợp này thời hạn đặt tiền vẫn được tính từ khi ra quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền và không quá thời hạn điều tra, truy tố, xét xử cũng như thời hạn gia hạn điều tra, truy tố, xét xử, hoãn thi hành án phạt tù. Quy định mới này làm rõ các vướng mắc về thời hạn áp dụng biện pháp này mà trước đây được cho là mang tính chung chung, khó hiểu, khó áp dụng.

5. Một số điểm mới trong quy định về đặt tiền để bảo đảm trong BLTTHS 2015

So với Điều 93 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã được thu hẹp đối tượng bảo đảm, chỉ ghi nhận tiền, bỏ quy định bảo đảm bằng tài sản có giá trị, đồng thời, ngoài bị can, bị cáo đã mở rộng chủ thể có quyền yêu cầu áp dụng là người thân thích của họ. Theo điểm e khoản 1 Điều 4 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về giải thích từ ngữ thì người thân thích của bị can, bị cáo bao gồm vợ, chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, bố nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột; cụ nội, cụ ngoại, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, cháu ruột.

Trong trường hợp yêu cầu cho đặt tiền để bảo đảm của họ được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận thì họ phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ (đối với bị can, bị cáo) hoặc cam đoan không để bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ (đối với người thân thích của bị can, bị cáo): có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan; không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội; không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, không chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này. Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm giam và số tiền đã đặt bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định thời hạn đặt tiền không quá thời hạn điều tra, truy tô' hoặc xét xử. Thời hạn đặt tiền đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.

6. Ưu và nhược điểm của biện pháp đặt tiền để bảo đảm

Ưu điểm:

- Các quy định về biện pháp đặt tiền để bảo đảm trong BLTTHS năm 2015 đã kế thừa tinh thần của BLTTHS năm 2003 và phù hợp với Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, đồng thời cũng cụ thể hóa nhiều nội dung giúp cho các quy định dễ áp dụng vào thực tiễn. Đây là quy định mang tính chất nhân văn, đảm bảo quyền con người, phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp, phù hợp với xu hướng pháp luật tiên tiến trên thế giới.

- Quy định về biện pháp đặt tiền để bảo đảm cũng đồng nghĩa với việc biện pháp tạm giam sẽ từng bước được hạn chế ở mức thấp nhất vì trên thực tế, việc tạm giam bị can, bị cáo cũng đem lại những hạn chế nhất định. Các hệ lụy kéo theo khi áp dụng biện pháp tạm giam là ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần của bị can, bị cáo, thậm chí tính mạng có thể bị xâm phạm. Mặt khác, khi bị tạm giam, bị can, bị cáo còn bị ảnh hưởng nặng nề đến cả công việc, thu nhập trong trường hợp cá nhân họ và cả những người sống phụ thuộc vào thu nhập của họ. Điều này đồng nghĩa với việc, nền kinh tế, xã hội cũng một phần chịu tác động theo nếu bị can, bị cáo đó nắm vai trò ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh trong xã hội. Từ những hệ lụy của biện pháp tạm giam như vậy, thì việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm thay thế biện pháp tạm giam sẽ là một giải pháp phù hợp, đem lại hiệu quả tốt cho xã hội và cần phải được áp dụng tối đa trong điều kiện cho phép.

- Việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm sẽ giảm áp lực trong công tác quản lý tại các cơ sở giam giữ. Các vấn đề khác có liên quan như cơ sở vật chất, đội ngũ phục vụ, thậm chí cả các chi phí ăn uống, sinh hoạt … cũng giảm bớt.

- Mức tiền đặt không cao, phù hợp với khả năng của bị can, bị cáo; người thân thích của bị can, bị cáo.

- Trình tự, thủ tục quy định cụ thể trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án, Kho bạc nhà nước, cơ quan tài chính trong Quân đội và người nộp tiền. Thủ tục khá đơn giản, dễ thực hiện.

Nhược điểm:

Thứ nhất, trong vụ án hình sự cứ liên quan đến tiền mà cơ quan tiến hành tố tụng quyết định áp dụng là rất nhạy cảm.

Thứ hai, trong quá trình áp dụng biện pháp ngăn chặn nhẹ hơn tạm giam, người có thẩm quyền trong cơ quan tiến hành tố tụng có cân nhắc, lựa chọn để có phương án áp dụng “hay hơn”. Chẳng hạn, trong vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông nghiêm trọng ở khu vực Hàng Xanh (TP. HCM). Khuya ngày 21/10/2018, bà Nguyễn Thị Nga (47 tuổi, ngụ tại TP. HCM) điều khiển xe ô tô chạy trên đường Điện Biên Phủ với tốc độ cao. Đến ngã tư Hàng Xanh, xe của bà Nga tông vào nhiều xe máy đang dừng đèn đỏ và một taxi làm một người tử vong và nhiều người khác bị thương… Cơ quan CSĐT Công an Quận Bình Thạnh đã khởi tố vụ án “Vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ”, khởi tố bị can và bắt tạm giam bà Nga để phục vụ điều tra. Bị can cùng gia đình có đề nghị đặt tiền để bảo đảm cho bị can được tại ngoại; cơ quan tiến hành tố tụng liên quan có xin ý kiến cấp trên, nhưng do vụ án đang được dư luận quan tâm nên các cơ quan tiến hành tố tụng… ngại áp dụng.

Thứ ba, việc áp dụng đặt tiền để được tại ngoại thời điểm này không phù hợp vì nhìn chung ý thức của người dân chưa cao, công tác quản lý chưa thực sự tốt, nhiều trường hợp bỏ trốn luôn. Nói chung lợi ích ít mà nguy cơ nhiều nên cơ quan chức năng không áp dụng là đúng.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)