1.Năng lực kinh doanh của ngân hàng là khả năng cho vay của một ngân hàng, đặc biệt khả năng “tạo tiền” bằng cách ký thác một phần tiền vay mới trong một tài khoản ngân hàng. Người vay không nhận khoản vay bằng tiền mặt; thay vào đó, tiền thu được từ cho vay được gởi vào tài khoản séc mới hay có sẵn. Người cho vay đồng ý thanh toán các chi phiếu rút ra từ tài khoản này, và có thể sử dụng một phần số dư đó để cho vay mới.
Không như hầu hết các công ty cổ phần khác, được tự do tham gia bất cứ hoạt động nào mà pháp luật không cấm, các ngân hàng Mỹ chỉ có thể tiến hành những hoạt động được chấp thuận cụ thể theo luật hay theo quy định. Quyền ngân hàng nói chung chia làm hai loại: quyền chính thức, bao gồm khả nâng cho vay tiền được cấp bởi các cơ quan lập pháp bang hoặc Quốc hội; và các quyền hàm ý được các tòa án trao qua các phán quyết của tòa án.
2.Các dịch vụ tài chính được xem là có liên hệ chặt chẽ với ngân hàng, và được phê duyệt bởi Quốc hội hay các cơ quan giám sát ngân hàng, xem như các hoạt động ngoài ngân hàng được cho phép. Những năm 1990, nhiều rào cản giới hạn các hoạt động ngân hàng trong việc mua bán chứng khoán, bảo hiểm, các quỹ hỗ tương, và các dịch vụ tư vấn đầu tư được dỡ bỏ, cho phép các ngân hàng cạnh tranh tự do hơn với các định chế tài chính phi ngân hàng.