1. Cơ sở hình thành văn minh Ấn Độ cổ đại
1.1. Vị trí địa lý
- Ấn Độ là một "tiểu lục địa" lớn ở miền Nam châu Á, hai mặt Đông Nam và Tây Nam tiếp giáp Ấn Độ Dương. Tây Bắc là khu vực đồi núi thấp, tiếp giáp với Trung Á và Tây Nam Á. Phía Bắc là dãy Himalaya hùng vĩ bao bọc theo một vòng cung dài 2.600 km, trong đó có khoảng 40 ngọn núi cao trên 7.000 m so với mặt biển, ranh giới tự nhiên của Ấn Độ và Trung Hoa. Theo ý tưởng của người Ấn Độ cổ thì đây là nơi ‘ trụ trời "đã nâng mặt đất lên để nhân gian tồn tại. Himalaya theo tiếng Sanskrit, có nghĩa là "nơi cư trú của tuyết" hoặc "xứ sở của tuyết". Trong ý tưởng của người Ấn Độ thì Himalaya là nơi tiếp giáp giữa cõi trời và đất, là nơi cư ngụ và trở về của các linh hồn nên nơi đây thường là chốn tu hành tập luyện của những đạo sĩ mong muốn tĩnh tâm thiền định để suy ngẫm về bản chất của vũ trụ và nhân sinh, tìm kiếm con đường giải thoát cho chúng sinh khỏi sự bất hạnh, khổ đau của cuộc sống.
- Thời cổ trung đại, lãnh thổ của Ấn Độ rộng lớn hơn, bao gồm toàn bộ các nước Pakistan, Băng La Đét và Nepal ngày nay.
- Ấn Độ ngày nay là một nước có diện tích rộng đứng hàng thứ 7 trên thế giới (3.280.483 km²) và có số dân đông thứ hai chỉ sau Trung Quốc. Nhìn trên bản đồ thì Ấn Độ gần như bao trọn toàn bộ vùng Nam Á.
1.2. Điều kiện tự nhiên
- Địa hình: Ấn Độ cũng đa dạng: phân thành hai miền Nam và Bắc, lấy dãy núi Vindya làm ranh giới.
Miền Bắc có hai con sông lớn là sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Gange). Lưu vực sông Ấn là nơi khởi nguồn của một trong các nền văn minh lâu đời nhất trong lịch sử loài người. Hai con sông Ấn và Hằng đã tạo thành vùng đồng bằng màu mỡ, phì nhiêu, rất thuận tiện để canh tác, phát triển sản xuất nông nghiệp. (Lưu vực sông Ấn và sông Hằng là một trong những vựa lúa của thế giới ngày nay) .
Miền cực Bắc Ấn Độ là tỉnh Casmia. Phía Nam Casmia là vùng Punjab, tức "vùng năm sông" (bao gồm sông Ấn và bốn nhánh sông chính là Ravi, Them, Chenar và Sutlej) . Các sông chính của Ấn Độ như sông Ấn và sông Hằng cùng bắt nguồn từ dãy núi Himalaya, tuy nhiên chúng chảy theo hai hướng ngược nhau. Sông Ấn dài trên 1.500 km chảy theo hướng Tây Nam qua vùng Punjab Tây, đổ ra vịnh Oman, tên Ấn của nó là Sindhu, có nghĩa là "sông". Người Ba Tư khi đến đất Ấn đã đổi nó thành Hindu và gọi tất cả miền Bắc Ấn Độ là Hindustan, tức "xứ sở các dòng sông". Chính nơi đây từ thiên niên kỷ thứ III TCN đã nảy sinh nên một nền văn minh nổi tiếng là Môhenjô Đarô và Harappa.
Sông Hằng được cho là con sông thiêng liêng nhất của Ấn Độ. Nó bắt nguồn từ dãy Himalaya và chảy qua cả phía Bắc Ấn. Trong huyền thoại Ấn Độ, sông Hằng là người con gái của Himalaya, không chỉ thế, theo người Ấn Độ thì sông Hằng chính là con rồng ở trên trời. Nó chảy tung bọt dưới chân thiên thần Visnu - thần Bảo tồn, cho nên nó có tên là Vishnu Padi. Khi vua Bhagirathi muốn thực hiện ước nguyện của cha mình, đã bỏ ngai vàng lên Himalaya luyện phép mới xin được sông Hằng từ thiên giới xoay dòng chảy về tưới mát cho nhân gian. Nó chảy xuyên qua Himalaya và lại chảy về địa ngục. Vì vậy sông Hằng có đến ba dòng chảy qua cả ba thế giới: trên bầu trời nó là Ngân Hà, ở mặt đất nó là Hằng Hà và dưới âm phủ nó có tên là Patalganga. Vì sông Hằng chảy qua cả ba thế giới nên nó còn được gọi là Tripathi Ga.
Đối với người Ấn Độ, nước sông Hằng có khả năng thanh tẩy vô cùng kỳ diệu: người có tội đến tắm nước sông Hằng sẽ trở nên trong sạch. Đến với sông Hằng, nghe tên sông Hằng là người ta cảm thấy nhẹ nhàng, thư thái và như trút bỏ được tất cả vất vả, âu lo của cuộc sống. Do vậy, sông Hằng được xem như sông Mẹ. Hình tượng của sông Hằng được miêu tả như là một người đàn bà cầm một bình đầy nước và đứng trên một con cá sấu.
Việc tắm nước sông Hằng đã trở thành một sinh hoạt tôn giáo thiêng liêng. Đó là lễ hội tắm Kumbh Mela. Hàng năm, hàng triệu tín đồ đạo Hindu từ các miền Ấn Độ lại hành hương đến đây tắm dòng nước mát sông Hằng để được gột rửa hết mọi tội lỗi, để được thanh thản và an ủi. Và khi nhắm mắt, nếu được nhỏ một vài giọt nước sông Hằng vào mồm thì đó là hạnh phúc của cuộc đời. "Dòng sông Hằng..... đã nắm lấy trái tim của Ấn Độ và đưa được bao nhiêu triệu người đến đôi bờ của nó từ lúc bình minh của lịch sử. Câu chuyện dòng sông Hằng, từ khởi nguồn của nó đến biển cả, từ thời xa xưa đến thời nay, là câu chuyện của nền văn minh và văn hoá Ấn Độ, của quá trình hưng suy của các vương triều, của nhiều đô thị lớn, nhỏ, của cuộc phiêu lưu của con người cùng những khám phá của trí tuệ đã làm thức tỉnh các nhà tư tưởng Ấn Độ".
Miền Nam Ấn là cao nguyên Đê Can rộng lớn, có nhiều sông ngòi và khoáng sản, ở giữa hai dãy núi Đông Gát và Tây Gát, trải dài dọc theo hai mặt Đông và Tây của bờ biển Ấn Độ Dương. Vùng cao nguyên Đê Can có khá nhiều sông ngòi chảy qua rồi đổ ra biển cả, tuy nhiên mực nước của những con sông này không ổn định nên không thuận tiện về giao thông cũng như tưới tiêu.
- Cùng với sự đa dạng của địa hình, khí hậu của Ấn Độ cũng rất đa dạng và khắc nghiệt: ở miền Bắc Ấn – dãy Himalaya quanh năm tuyết phủ, gió lạnh thấu xương, bão tuyết thường xuyên xảy đến, mùa hè băng tuyết tan lại tạo thành những cơn thác lũ đổ xuống chân núi, có thể cuốn lấp đi cả một vùng làng mạc dân cư. Ở miền Nam, khí hậu khô, nóng, đất đai khô cằn.
=> Tóm lại, Ấn Độ là một đất nước có điều kiện tự nhiên, điều kiện địa lý hết sức đa dạng nhưng cũng vô cùng khắc nghiệt. Đó là một tiểu lục địa mênh mông, vừa có những miền núi cao đầy băng giá và rừng rậm âm u, vừa có những miền đại dương chói chang ánh nắng, vừa có những con sông lớn với những đồng bằng trù phú lại vừa có những cao nguyên và sa mạc khô khan, nóng nực.
1.3 Cư dân
Ấn Độ gồm rất nhiều tộc người, nhưng chủ yếu có hai thành phần chủng tộc: Đraviđa chủ yếu cư trú ở miền Nam và người Aryan từ vùng Ca Xpiên di cư xuống miền Bắc Ấn Độ và định cư ở đó. Theo các tài liệu nghiên cứu về ngôn ngữ học, khảo cổ học và dân tộc học, ở Ấn Độ có đến 1500 ngôn ngữ khác nhau. Ngày nay, chính phủ Ấn Độ đã công nhận 15 ngôn ngữ chính thức, trong đó tiếng Hindu được coi là ngôn ngữ dân tộc và tiếng Sanskrit là ngôn ngữ cổ dân tộc.
2. Những điểm chính của chế độ xã hội ở Ấn Độ cổ đại:
- Khoảng năm 2500 TCN, người bản địa Đa-vi-a đã xây dựng những thành thị đầu tiên dọc theo hai bên bờ sông Ấn. Giữa thiên niên kỷ II TCN, người A-ri-a từ vùng Trung Á tràn vào miền Bắc Ấn Độ, thống trị người Đa-vi-a.
- Trong xã hội tồn tại chế độ đẳng cấp Vác-na (phân biệt về chủng tộc và màu da). Cư dân trong xã hội được phân chia thành 4 đẳng cấp với những quyền lợi và nghĩa vụ khác nhau:
- Đẳng cấp thứ nhất là Brahman, là những người da trắng có thân phận là Tăng lữ - quý tộc. Đây là đẳng cấp cao nhất – những người thuộc đẳng cấp này có nhiệm vụ nghiên cứu - giảng dạy kinh Vê-đa và lo việc cúng tế thần linh.
- Đẳng cấp thứ hai là Ksatria, là những người da trắng có thân phận là: vương công/ võ sĩ. Những người thuộc đẳng cấp này có nhiệm vụ: học kinh Vê-đa; dâng lễ tế thần linh và cai trị thần dân.
- Đẳng cấp Vaisya (nông dân, thợ thủ công; thương nhân) – những người thuộc đẳng cấp này có nghĩa vụ nộp thuế, lao dịch; phục vụ cho Bram và Ksatria.
- Đẳng cấp Sudra là những người bản địa da màu bị chinh phục và những người có địa vị thấp kém nhất trong xã hội; họ phải phục tùng không điều kiện cho 3 đẳng cấp trên (Brahma, Ksatria và Visa).
Quan hệ giữa các đẳng cấp trong đời sống thường nhật được luật pháp quy định rất chặt chẽ. Những người khác đẳng cấp không được kết hôn với nhau và những người thuộc đẳng cấp dưới buộc phải tôn kính và phục tùng không điều kiện những người thuộc đẳng cấp trên.
Hy vọng bài viết trên đã cung cấp cho quý bạn đọc những kiến thức hữu ích, chúc các bạn học tốt.