- 1. Quy định về vận chuyển, bảo quản và chăm sóc
- 2. Bản chất pháp lý nghĩa vụ vận chuyển, bảo quản và chăm sóc hàng hóa của người chuyên chở
- 2.1. Vận chuyển, bảo quản và chăm sóc hàng hóa là một nghĩa vụ trực tiếp làm của người chuyên chở
- 2.2. Vận chuyển, bảo quản và chăm sóc hàng hóa là một nghĩa vụ nghiêm ngặt nhưng không phải là tuyệt đối
- 3. Nghĩa vụ khi nhận hàng
Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Doanh nghiệp của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi: 1900.6162
1. Quy định về vận chuyển, bảo quản và chăm sóc
Nghĩa vụ vận chuyển, bảo quản và chăm sóc hàng hóa (Carry, keep and care) của người chuyên chở được quy định tại khoản 2 Điều 3 Quy tắc Hague.
"2. Phụ thuộc vào những quy định ở Điều IV, người chuyên chở phải bốc xếp, di chuyển, chuyên chở, quản thủ, chăm sóc và dỡ hàng hóa một cách thích hợp và cân thận”.
2. Bản chất pháp lý nghĩa vụ vận chuyển, bảo quản và chăm sóc hàng hóa của người chuyên chở
2.1. Vận chuyển, bảo quản và chăm sóc hàng hóa là một nghĩa vụ trực tiếp làm của người chuyên chở
Nghĩa vụ chăm sóc hàng hóa một cách cẩn thận và thích hợp là một nghĩa vụ trực tiếp của người chuyên chở. Vì vậy, người chuyên chở sẽ không thể bào chữa cho việc chăm sóc hàng hóa một cách không thích hợp bằng cách biện luận rằng tổn thất hay tổn hại có thể quy cho là do lỗi của một nhà thầu độc lập và thạo việc mà họ thuê thực hiện công việc hay là do họ đã làm theo lời khuyên của nhà thầu độc lập đó. Về mặt này, một số phán quyết của tòa án Anh quốc đã nhấn mạnh rằng có một sự tương tự giữa nghĩa vụ trực tiếp làm của người chuyên chở trong việc mẫn cán hợp lý làm cho tàu có đủ khả năng đi biển và nghĩa vụ trực tiếp làm của họ trong việc chăm sóc hàng hóa một cách thích hợp. Trong vụ International Packer kiện Ocean s.s. Co. (1955), quan tòa McNair đã phán quyết: "Giông như nghĩa vụ được quy định tại Điều III. 1 buộc người chuyên chở phải thực hiện mẫn cán hợp lý để làm cho tàu đủ khả năng đi biển, nghĩa vụ được quy định bởi Điều III.2 của Quy tắc là một nghĩa vụ của chính chủ tàu mà họ không thể tránh được bằng cách chứng minh rằng họ đã thuê một nhà thầu độc lập và trong thực tế người này đã bất cẩn...".
Cách giải thích này về Điều III.2 đã tiếp tục được lặp lại trong vụ Leesh Rivere Tea Co. kiện Bristish India Steam Navigation Co. (The Chyebassa) năm 1966. Bảo quản, chăm sóc và vận chuyển hàng hóa được coi là một nghĩa vụ không thể ủy thác được của người chuyên chở.
Điều quan trọng của Quy tắc là người chuyên chở phải tiếp tục làm theo nghĩa vụ đã phát sinh tại cảng xếp hàng, tiếp tục trong suốt hành trình cho đến khi dỡ hàng. Người chuyên chở có nghĩa vụ chăm sóc hàng hóa trong suốt hành trình và phải áp dụng những biện pháp cần thiết nhằm bảo quản hàng hóa trong hành trình đó. Ví dụ, tham khảo vụ International Packer kiện Ocean s.s. Co. (1955) hàng hóa được chuyên chở là một số hòm các tông thịt hộp vận chuyển từ Melbourne đi Glassgow. Sau khi tàu rời Melbourne, các bộ phận nêm chốt để giữ an toàn cho các tấm vải bạt che miệng hầm hàng số 2 đã bị bật khỏi vị trí và nước biển đã vào hầm hàng. Tàu ghé vào Fremantle để lấy thêm hàng, chủ tàu đã nghe theo ý kiến của giám định viên địa phương là một phần hàng ở hầm số 2 phải dỡ tại đây mà không nên chở tiếp đi Glassgow. Tuy nhiên, không phải là toàn bộ hàng hỏng đã được dỡ lên Fremantle nên khi tàu đến Glassgow người ta phát hiện trong hầm tàu hàng hóa đã bị hỏng thêm. Tòa đã xử là:
- Chủ tàu đã không vi phạm nghĩa vụ theo Điều III. 1, vì vào thời gian tàu rời Melbourne thời tiết không xấụ đến mức phải cần thêm các thanh hãm an toàn để chặn những tấm bạt.
- Nhưng sau khi rời Melbourne thời tiết trở nên xấu hơn do đó cần phải có những thanh chặn đây chính là điểm dẫn tối việc vi phạm trách nhiệm chăm sóc hàng hóa theo Điều III.2.
- Trách nhiệm chăm sóc hàng hóa của chủ tàu còn mở rộng tới người giám định hàng hóa, người đã cho ý kiến sai mà chủ tàu cũng đã dựa vào ý kiến đó nên đã dẫn tới tình trạng hư hỏng thêm hàng hóa trong hành trình tiếp theo.
2.2. Vận chuyển, bảo quản và chăm sóc hàng hóa là một nghĩa vụ nghiêm ngặt nhưng không phải là tuyệt đối
Các nghĩa vụ của người chuyên chở được quy định tại Điều III.2 của Quy tắc luôn luôn là những nghĩa vụ nghiêm ngặt nhưng không phải là tuyệt đối. Người chuyên chở phải hoàn thành nghĩa vụ này một cách cẩn thận và thích hợp nhưng nó không có nghĩa là phải tuyệt đối và hoàn hảo. Trong vụ Albacora S.R.L kiện Westcott & Laurance Line Ltd. năm 1966, quan tòa Pearson đã phát biểu: "Thuật ngữ thích hợp bổ sung thêm nghĩa cho thuật ngữ cẩn thận, khi thuật ngữ này được hiểu theo nghĩa hẹp chỉ đơn thuần là thực hiện một cách cẩn thận. Nghĩa được thêm vào là thực hiện một cách cẩn thận với các yếu tố kỹ năng thành thạo và một hệ thống hoàn chỉnh và đầy đủ". Tương tự, trong vụ Chris Foodstuffs Ltd. kiện Nigerian National Shipping Line năm 1967, quan tòa Reid tin tưởng rằng thuật ngữ "thích hợp" có nghĩa là phù hợp với một hệ thống hoàn chỉnh và đầy đủ: "... nghĩa vụ là sử dụng một hệ thống hoàn chỉnh và đầy đủ trên cơ sở tât cả những hiểu biết và kiến thức mà người chuyên chở có hay đáng lẽ phải có về bản chất của hàng hóa”... Cách hiểu tương tự như trên về các thuật ngữ "thích hợp và cẩn thận" rất phổ biến và thịnh hành ở các quốc gia thuộc Khối thịnh vượng chung và cả Hoa Kỳ. Điều 1303 (2) của Bộ Luật 46 U.S. Code quy định các nghĩa vụ như đã nói trên của người chuyên chở nhưng Điều 1303 (4) làm rõ rằng nghĩa vụ này không phải là tuyệt đối, cũng tại điều này đưa ra một số trường hợp loại trừ của quy định trên.
Việc đưa thêm thuật ngữ thích hợp vào với thuật ngữ cẩn thận tạo ra mức độ cẩn thận hơn đối với người chuyên chở. Chăm sóc hàng hóa cẩn thận một cách thích hợp còn bao gồm cả việc xem xét người chuyên chở, người làm công hay đại lý của họ và người thầu độc lập đã thực hiện một cách thành thạo theo các chuẩn mực hiện hành. Cũng bởi vì các nghĩa vụ bắt buộc tại Điều III.2 không phải là nghĩa vụ tuyệt đối nên mới có câu mở đầu là "Phụ thuộc vào những quy định ở Điều IV" và người chuyên chở mới có thể loại bỏ trách nhiệm của mình bằng cách chứng minh rằng tổn thất gây ra bởi các điều loại trừ quy định tại Điều IV. 2. Trong Luật COGSA của Hoa Kỳ thì lại thiếu câu mở đầu này, tuy nhiên không vì thế mà nghĩa vụ này ở Hoa Kỳ bị coi là chặt chẽ hơn hay là trở nên tuyệt đối.
3. Nghĩa vụ khi nhận hàng
Nghĩa vụ nghiên cứu hàng hóa. Người chuyên chở phải nghiên cứu hàng hóa một cách cẩn thận trước khi bốc hàng để có thế làm tốt nghĩa vụ chăm sóc hàng hóa. Tham chiếu một số án lệ trực tiếp nhắc đến vấn đề này, trong vụ Drummond, Coal Co. kiện Interocean Shipping Co. năm 1985 tòa đã phán quyết: "Luật chuyên chở hàng hóa bằng đường biển của Hoa Kỳ (COGSA), u.s.c Điều 1300 và các điều sau đó quy định một nghĩa vụ bắt buộc đối với chủ tàu phải sử dụng các biện pháp hợp lý để tìm hiểu và xác định các tính chất của hàng hóa mà họ phải chăm sóc trong hành trình". Tương tự trong vụ Granite State Ins. Co. kiện M/V La Pampa đã được phán quyết rằng: "Khi hàng hóa là khô đậu tương được bốc lên tàu thì đã phát sinh nghĩa vụ của chủ tàu là phải làm hàng, vận chuyển, quản thủ và chăm sóc hàng hóa một cách cẩn thận và thích hợp theo Luật COGSA. Họ có nghĩa vụ cẩn thận hợp lý trong việc tìm hiểu và tính toán đến bản chất tự nhiên và tính chất đặc biệt của hàng hóa và đó là theo nghĩa vụ liên tục bảo vệ hàng hóa...".
Trong khi nghiên cứu hàng hóa, người chuyên chở phải nghiên cứu từ trong quá khứ, phải sử dụng các biện pháp hiện đại và phải thường xuyên cập nhật từ thực tế, Điều này đã được quan tòa Roskill cảnh báo đối với những người chuyên chở trong vụ tàu The Flowergate năm 1967.
Nghĩa vụ từ chối chuyên chở hàng hóa: Người chuyên chở không có nghĩa vụ phải chấp nhận hàng hóa nếu họ không thể đưa ra một cách xếp hàng và chăm sóc thích hợp trong suốt hành trình. Tốt hơn là họ nên từ chối chuyên chở hàng hóa hoặc khuyên cáo người gửi hàng rằng họ không thể có khả năng xếp hàng và chăm sóc một cách thích hợp. Trong vụ tàu The Ensley City năm 1947 đã được phán quyết rằng: "Không có một nghĩa vụ tuyệt đối của tàu phải nhận hàng hóa. Thực vậy, họ có thể không bắt buộc phải nhận hàng hóa trừ khi họ có thể cung cấp cách xếp hàng phù hợp với đặc điếm của hàng hóa và các điều khoản trên vận đơn không làm giảm nghĩa vụ chăm sóc hàng hóa của họ.". Gần đây hơn, trong vụ A&D properties Inc. kiện MAI Volta River năm 1984 cũng đã được tòa phán quyết tương tự là: "Một người chuyên chở không có nghĩa vụ bốc lên tàu hàng hóa mà họ không thể chuyên chở mà không xảy ra nguy hiểm đối với con tàu, thủy thủ của họ và những loại hàng hóa khác trên tàu mà không do lỗi của người chuyên chở".
Nói một cách khác, khi ngưòi chuyên chở không thể vận chuyển và bảo quản hàng hóa một cách thích hợp và cẩn thận thì người chuyên chở có thể hoặc từ chối chuyên chở hàng hóa hoặc phải đạt được sự ưng thuận của người gửi hàng để vận chuyển hàng hóa theo những điểu khoản và điều kiện đặc biệt. Trong trường hợp này có thể cả việc viện dẫn những điều loại trừ. Ví dụ như tổn hại do nội tỳ hay bản chất đặc biệt của hàng hóa hoặc bao bì yếu kém cũng bị vô hiệu bởi vì các đặc tính của hàng hóa đã được người gửi hàng nêu một cách rõ ràng.
Chỉ dẫn đối với hàng hóa đặc biệt. Như đã nói ở trên, người chuyên chở có nghĩa vụ nghiên cứu hàng hóa nhưng người gửi hàng cũng có nghĩa vụ ngược lại là phải cung cấp những chỉ dẫn đặc biệt đối với những hàng hóa đặc biệt. Tất nhiên là những chỉ dẫn về hàng hóa của người gửi hàng là không cần thiết khi đó là những loại hàng hóa thông dụng được nhiều người biết đến. Tòa án Hoa Kỳ áp dụng khá triệt để nguyên tắc này, tham chiếu vụ Tenneco Resins Inc. kiện Davy International, AG năm 1990 khi hàng hóa là hoá chất được vận chuyển trong các thùng kim loại, cơ sở sản xuất loại hoá chất này đã cẩu thả trong việc in dấu hiệu bảo quản lên vỏ thùng kim loại. Ký hiệu để nhắc nhở giữ cho hàng hóa tránh nước đã được in lên nắp trên của thùng và khi các thùng này được xếp chồng lên nhau trong các pallet trước khi bốc hàng người chuyên chở đã không nhìn thấy ký hiệu này. Người sản xuất cũng không có chỉ dẫn đặc biệt nào cho người chuyên chở rằng hàng hóa phải giữ tránh nước. Tòa đã phán quyết miễn trách nhiệm cho người chuyên chở trong tổn thất hàng hóa bị ẩm trên cơ sở rằng người sản xuất đã vi phạm nghĩa vụ khuyến cáo người chuyên chở những yêu cầu đặc biệt của hàng hóa.
Trong những trường hợp này người chuyên chở thường được miễn trừ trách nhiệm đối với những tổn thất được quy cho là do hành động hoặc do bất cẩn của người gửi hàng. Trong vụ Cigna Insurance Co. of Puerto Rico kiện MV Skanderborg năm 1996, người chuyên chở đã được miễn giải trách nhiệm đối với thiệt hại của hàng hóa là những hộp thiếc đựng dầu ôliu bị biến chất do rỉ kim loại nguyên nhân do việc đóng gói của người chuyên chở trong container không thông gió do người chuyên chở cung cấp. Quá trình đóng gói không có mặt của người chuyên chở và người gửi hàng cũng không có một chỉ dẫn đặc biệt nào về loại container mà họ cần.
Khi người chuyên chở đã nhận được chỉ dẫn đặc biệt về hàng hóa họ phải tuân thủ những chỉ dẫn này hoặc thương thảo với người gửi hàng về những điều kiện, điều khoản mới, hoặc từ chối hàng hóa. Trong các trường hợp khác, họ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với các hậu quả. Tham khảo vụ Transatlantic Marine Claims Agency, Inc. kiện s.s. Zyrardow năm 1990, người chuyên chở đã phải chịu trách nhiệm vể sự hư hỏng của hàng hóa là chuối khi họ không lưu ý đến chỉ dẫn của người thuê tàu về sự thông gió hầm hàng trong 60 giờ sau khi đóng cửa để thải ra ngoài khí etylen và dioxit cacbon là những chất làm đẩy nhanh quá trình chín.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập