1. Khái quát về luật áp dụng trong tranh chấp trọng tài.

Tố tụng trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận có sự tham gia của bên thứ ba –trọng tài viên và được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng do pháp luật quy định.

Luật áp dụng trong trọng tài thương mại quốc tế là vấn đề cần được xem xét một cách toàn diện theo ba phạm vi bao gồm: Luật áp dụng đối với tố tụng trọng tài, luật áp dụng đối với nội dung tranh chấp, và luật áp dụng đối với thoả thuận trọng tài. Mỗi phạm vi đều có những nguyên tắc áp dụng riêng mà không thể có sự nhầm lẫn hay sử dụng thay thế cho nhau. Bất kỳ sai sót nào trong việc lựa chọn luật áp dụng trong trọng tài thương mại quốc tế đều dẫn tới những hậu quả pháp lý tiêu cực đó là phán quyết trọng tài có thể bị hủy bỏ hay không được công nhận và thi hành ở nước ngoài. Lựa chọn luật áp dụng trong trọng tài là một trong những nội dung thường không được phép thực hiện trong trọng tài nội địa nhưng lại là một khâu cực kỳ quan trọng trong toàn bộ tiến trình trọng tài quốc tế, cần phải được các bên tham gia trọng tài, các trọng tài viên suy xét kỹ lưỡng trước và trong tố tụng trọng tài.

Luật áp dụng đối với tố tụng trọng tài là căn cứ pháp lý điều chỉnh toàn bộ thủ tục giải quyết tranh chấp mà hội đồng trọng tài cũng như các bên tranh chấp phải tuân theo kể từ khi bắt đầu tố tụng trọng tài đến khi kết thúc tố tụng trọng tài. Trong bất cứ một vụ việc trọng tài nào để vận hành tốt quá trình tố tụng cần phải xác định tố tụng trọng tài dựa theo nhu cầu của các bên tranh chấp mà việc xác định tố tụng trọng tài giải quyết vụ việc cũng khác nhau. Song, thực tiễn trọng tài quốc tế cho thấy, ảnh hưởng của tố tụng trọng tài tới quá trình giải quyết tranh chấp là rất lớn bởi nó quyết định tới tiến độ giải quyết vụ việc, quyền lợi, nghĩa vụ và sự thuận lợi cho các bên trong quá trình trọng tài, mức độ can thiệp của cơ quan nhà nước (chủ yếu là tòa án quốc gia nơi tiến hành xét xử) vào quá trình trọng tài, khả năng thi hành phán quyết trọng tài v.v. Bởi vậy, các bên cần dành thời gian cân nhắc sử dụng quy tắc tố tụng trọng tài nào để giải quyết tranh chấp của họ. Một bộ quy tắc trọng tài nổi tiếng đã được sử dụng nhiều trên phạm vi quốc tế rõ ràng là một sự lựa chọn tốt cho các tranh chấp tại trọng tài quốc tế. Tuy nhiên, dù áp dụng bất kỳ bộ quy tắc trọng tài nào trong trọng tài quốc tế thì mọi hoạt động tố tụng trọng tài đều phải tuân thủ triệt để các quy tắc tố tụng phải được đặt lên hàng đầu, nếu không, phán quyết của hội đồng trọng tài có nguy cơ cao trở thành vô hiệu.

 

2. Thỏa thuận trọng tài được xem xét trong trường hợp nào?

2.1. Trường hợp khiếu nại về thẩm quyền

Khiếu nại về thẩm quyền của trọng tài được gửi tới hội đồng trọng tài khi hội đồng đang trong quá trình giải quyết vụ việc nhưng chưa đưa ra phán quyết cuối cùng. Khiếu nại về thẩm quyền trọng tài khá đa dạng, đó có thể là sự viện dẫn về sự không rõ ràng trong lựa chọn tòa án hay trọng tài của thỏa thuận trọng tài, hay lựa chọn một tổ chức trọng tài không có trên thực tế để xét xử tranh chấp. Để xác định xem trọng tài có thẩm quyền không, lúc này cần phải căn cứ vào thoả thuận trọng tài. Nhìn chung, trong trường hợp này, các trọng tài viên đều tôn trọng luật do các bên thỏa thuận lựa chọn điều chỉnh thỏa thuận trọng tài để xác định tính hợp pháp của thoả thuận trọng tài. Nếu các bên đã không có bất kỳ sự thỏa thuận chọn luật nào như vậy, thực tiễn trọng tài thường đi theo các hướng giải quyết khác nhau. 

- Một số trọng tài viên đã đưa ra phán quyết rằng, nếu thiếu vắng sự chọn luật của các bên, thỏa thuận trọng tài sẽ được điều chỉnh bởi luật của nước nơi tiến hành trọng tài. Nguyên tắc này được thể hiện trong nhiều phán quyết của tòa án trọng tài thuộc Phòng thương mại và công nghiệp Bungari, nó cũng nhận được sự đồng tình của các trọng tài viên thuộc Hiệp hội trọng tài Mỹ. 

- Một số trọng tài lại có quan điểm khác, theo họ, thoả thuận trọng tài được điều chỉnh bởi luật áp dụng đối với nội dung tranh chấp. Phán quyết 5/9/1977 của Hội đồng trọng tài thuộc Hiệp hội buôn bán dầu, chất béo và hạt chứa dầu Hà Lan ghi rõ: “… luật áp dụng đối với nội dung tranh chấp cũng được áp dụng đối với việc xem xét hiệu lực của điều khoản trọng tài.”

- Ngoài ra một số trọng tài lại tin tưởng vào các quy tắc trọng tài của tổ chức trọng tài mà các bên đã lựa chọn để giải quyết tranh chấp. Họ cho rằng, cần phải dựa vào những quy tắc này để điều chỉnh các vấn đề của thoả thuận trọng tài. Toà án trọng tài ICC đã ra phán quyết về luật điều chỉnh điều khoản trọng tài như sau: “Vì mục đích của tố tụng trọng tài, các bên đã thoả thuận áp dụng các quy tắc trọng tài ICC… và việc làm như vậy, biến các quy tắc của một tổ chức trọng tài quốc tế thành nguồn luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài… do đó, hiệu lực của điều khoản trọng tài phải được xác định dựa vào các quy tắc trọng tài ICC.”

2.2. Khi việc công nhận và thi hành phán quyết trọng tài được đặt ra

Nguyên tắc thỏa thuận trọng tài được điều chỉnh bởi luật do các bên lựa chọn được sử dụng khá phổ biến trong pháp luật các nước cũng như các quy tắc tố tụng trọng tài quốc tế. Về nguyên tắc, điều khoản trọng tài độc lập với phần còn lại của hợp đồng (điều này được thừa nhận rộng rãi trên thế giới), nên các bên có quyền thỏa thuận một luật riêng để điều chỉnh điều khoản trọng tài mà không phải dựa vào luật điều chỉnh nội dung hợp đồng. Nếu muốn một luật riêng như vậy, họ cần thỏa thuận rõ về việc áp dụng luật đó trong hợp đồng hoặc một văn bản riêng. Tuy nhiên trên thực tế, hiếm khi các bên thỏa thuận áp dụng luật riêng cho thoả thuận trọng tài mà mặc nhiên sử dụng ngay luật điều chỉnh nội dung hợp đồng (thường được thỏa thuận dưới dạng một điều khoản hợp đồng).

 Trong trường hợp các bên không có thoả thuận như vậy, nhiều hệ thống pháp luật thừa nhận nguyên tắc luật của nước nơi phán quyết trọng tài được tuyên sẽ thay thế. Nguyên tắc này được tìm thấy gián tiếp qua các quy định về công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài trong các luật trọng tài trên thế giới. Khoản 1 điều 54 Luật Trọng tài Thuỵ Điển 1999 quy định: “Phán quyết trọng tài nước ngoài có thể bị từ chối công nhận và thi hành ở Thuỵ Điển nếu bên bị chống lại quyền lợi chứng minh được rằng… thoả thuận trọng tài không hợp pháp theo luật của nước mà các bên đã chọn, nếu họ không đạt được thỏa thuận như vậy, theo luật của nước phán quyết trọng tài được tuyên”. Khoản II điều 38 Luật Trọng tài Brazil quy định: “… phán quyết trọng tài nước ngoài có thể bị từ chối công nhận và thi hành nếu bị đơn chứng minh được rằng thoả thuận trọng tài không có hiệu lực theo luật của nước mà các bên đã chọn, nếu thiếu điều này, theo luật của nước nơi phán quyết trọng tài được tuyên”. 

Cũng theo điều 34(2)(a)(i) luật mẫu trọng tài UNCITRAL: “Một quyết định chỉ có thể bị tòa án theo quy định tại Điều 6 huỷ trong trường hợp… thỏa thuận nói trên không có giá trị pháp lý theo luật mà các bên đã chọn để áp dụng hoặc theo luật của quốc gia nơi quyết định được tuyên trong trường hợp mà các bên không ghi rõ”. Nội dung tương tự cũng được thể hiện tại điều V Công ước NewYork 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài.

3. Nguyên tắc xác định luật áp dụng đối với tố tụng trọng tài.

Thoả thuận trọng tài phải tuân thủ luật của nước được áp dụng đối với thoả thuận trọng tài (dù là một điều khoản trong hợp đồng hay một thoả thuận được lập ngoài hợp đồng vào thời điểm phát sinh tranh chấp) nếu các bên mong muốn tranh chấp sẽ được giải quyết bằng trọng tài chứ không phải là một phương pháp khác; hơn nữa là, phán quyết trọng tài cuối cùng sẽ có hiệu lực và được bảo đảm thi hành. 

Căn cứ Điều 31 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định: Trong trường hợp tranh chấp được giải quyết tại một trung tâm trọng tài, quá trình tố tụng trọng tài bắt đầu khi trung tâm trọng tài nhận được đơn kiện của nguyên đơn."

Điều 28(2) Luật mẫu của UNCITRAL chỉ ra rằng: “Nếu các bên không chọn luật, hội đồng trọng tài sẽ áp dụng luật được xác định bởi các quy tắc xung đột luật mà hội đồng trọng tài thấy là thích hợp”. Nguyên tắc xác định luật áp dụng này cũng được tìm thấy trong Quy tắc họng tài UNCITRAL (Điều 33).

Như vậy nhìn một cách khái quát để điều chỉnh tố tụng trọng tài, đại đa số pháp luật các nước đều dựa trên nguyên tắc được ghi nhận trong Luật Mẫu UNCITRAL về trọng tài thương mại quốc tế, đó là: Tôn trọng sự thỏa thuận của các bên tranh chấp hay sự tự chủ của các bên tranh chấp (party autonomy). Trường hợp các bên tranh chấp không lựa chọn thì hội đồng trọng tài sẽ lựa chọn tố tụng trọng tài mà hội đồng trọng tài cho là phù hợp. Điều 19.1 Luật Mẫu UNCITRAL 2006 quy định: “Theo quy định của luật này, các bên được tự do thỏa thuận về thủ tục mà Hội đồng trọng tài phải thực hiện khi tiến hành tố tụng”. Và trong trường hợp không có thoả thuận của các bên thì “Hội đồng trọng tài có thể, theo quy định của luật này, tiến hành trọng tài theo cách thức mà Hội đồng trọng tài cho là thích hợp” (Điều 19.2).


Như vậy nếu các bên không tự thỏa thuận được với nhau hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì hội đồng trọng tài sẽ căn cứ vào lợi ích các bên và tùy theo hoàn cảnh của từng vụ việc, kết hợp với các truyền thống pháp lý khác nhau mà hội đồng trọng tài bị ảnh hưởng để xác định xem tố tụng trọng tài như thế nào mới là phù hợp nhất với vụ việc mà họ đang giải quyết.

Trước khi có tranh chấp xảy ra, các bên cần thỏa thuận trước về cơ sở pháp lý điều chỉnh tố tụng trọng tài nhằm đảm bảo rằng tố tụng trọng tài nếu phải được áp dụng để giải quyết tranh chấp sẽ phù hợp với các điều kiện về kinh tế, pháp lý của mình khi tham gia giải quyết tranh chấp tại trọng tài quốc tế cũng như "thân thiện" với trọng tài. Điều đó rất có ý nghĩa khi một bên nhận thây tố tụng trọng tài do hội đồng trọng tài xác định (khi các bên không lựa chọn) khá xa lạ (hoặc không phù hợp) với truyền thống pháp lý mà họ vốn quen thuộc. Tố tụng trọng tài mà các bên lựa chọn hoặc hội đồng trọng tài quyết định có thể là bộ quy tắc trọng tài của một tổ chức trọng tài nhưng cũng có thể là luật trọng tài của một quốc gia cụ thể hoặc quy tắc tố tụng trọng tài UNCITRAL, thậm chí sử dụng quy tắc tố tụng trọng tài lai trong trọng tài ad-hoc. Một điều cũng rất đáng quan tâm đối với các bên là thỏa thuận về tố tụng trọng tài của họ cần rõ ràng, cụ thể, chính xác nhằm tránh những tranh cãi về tố tụng trọng tài sẽ được áp dụng khi tranh chấp phát sinh. Thực tế có những vụ việc mà hội đồng trọng tài đã rất khó khăn khi phải xác định luật điều chỉnh tố tụng trọng tài trên cơ sở một thỏa thuận không rõ ràng và thiếu chính xác.

Mặc dù các bên tranh chấp được thoả thuận về luật điều chỉnh tố tụng trọng tài, hay hội đồng trọng tài có quyền lựa chọn tố tụng trọng tài phù hợp nếu các bên đã không lựa chọn hay lựa chọn không rõ ràng, chính xác thì cũng cần hết sức lưu ý tới những quy định trong luật trọng tài của nước nơi tiến hành trọng tài đặc biệt là các quy định mang tính bắt buộc, bởi vì bất cứ sự không phù hợp nào giữa quy tắc tố tụng được lựa chọn bởi các bên hay do hội đồng trọng tài chọn với các quy định mang tính bắt buộc của nước nơi tiến hành trọng tài đều đe dọa tới sự vô hiệu của quyết định trọng tài ở nước tiến hành trọng tài và những nước thành viên Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài. 

Điều V Công ước New York 1958 chỉ rõ: "Việc công nhận và thi hành phán quyết có thể bị từ chối, theo yêu cầu của bên phải thi hành, chỉ khi nào bên đó chuyển tới cơ quan có thẩm quyền nơi việc công nhận và thi hành được yêu cầu, bằng chứng rằng: ...quyết định chưa có hiệu lực ràng buộc đối với các bên, hoặc bị hủy hay đình hoãn bởi cơ quan có thẩm quyền của nước hoặc theo luật của nước nơi quyết định được lập."

Tuỳ thuộc vào quan điểm về trọng tài của mỗi nước (ủng hộ hay không ủng hộ, ủng hộ ít hay nhiều) mà các quy định mang tính bắt buộc đối với tố tụng trọng tài cũng khác nhau. Ví dụ, ở Ả-rập Xê-Út ngôn ngữ chính thức sử dụng trong toàn bộ quá trình trọng tài là tiếng Ả-rập. Một số hệ thống pháp luật yêu cầu quyết định trọng tài phải đăng ký tại tòa án địa phương ngay sau khi được ban hành như Luật Trọng tài Cô-oét 1995 (Điều 184). 

Luật Minh Khuê ( Biên tập và Sưu tầm)