- 1. Vấn đề nhận thức và cụ thể hóa định hướng của Đảng còn bất cập
- 2. Tính độc lập và uy quyền của Tòa án chưa thật sự đảm bảo
- 2.1. Trong mối quan hệ giữa Đảng và Tòa án nhân dân
- 2.2. Trong mối quan hệ giữa cơ quan quyền lực nhà nước với Tòa án nhân dân
- 2.3. Trong mối quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với Tòa án nhân dân
- 2.4. Trong mối quan hệ giữa các cơ quan khác trong hệ thống tư pháp và Tòa án nhân dân
- 2.5. Trong mối quan hệ trong nội bộ hệ thống Tòa án nhân dân
1. Vấn đề nhận thức và cụ thể hóa định hướng của Đảng còn bất cập
Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến đổi mới công tác dư luận và định hướng dư luận xã hội (DLXH) theo hướng đa dạng, thiết thực, hiệu quả, gần dân hơn. Theo đó, công tác định hướng DLXH đã không ngừng được đổi mới cả về nội dung, hình thức và phương pháp; góp phần tạo đồng thuận trong nhận thức, thái độ, hành vi của nhân dân; đóng góp tích cực vào quá trình đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; tăng cường niềm tin, mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân...
Trên cơ sở nhận thức về nhà nước pháp quyền, từ khi thành lập nước cho đến nay, Đảng luôn nhất quán trong việc xây dựng hệ thống Tòa án đủ năng lực để giải quyết hiệu quả các tranh chấp, cáo buộc xảy ra trong đời sống xã hội. Mặc dù vậy, trong thời gian đầu, do tính giai cấp luôn được đề cao nên tính công lý trong hoạt động xét xử của Tòa án chưa thật sự đảm bảo. Điều này được thể hiện khá rõ trong thời kỳ thực hiện cách mạng ruộng đất năm 1953 - 1956 cũng như qua các quy định pháp luật về nhiệm vụ của Tòa án tại các Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960; Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 (sửa đổi, bổ sung năm 1988); Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 1993 và 1995) và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002: “Trong Phạm vi chức năng của mình, Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dàn. Đến nay là Luật tổ chức Tòa án Nhân dân năm 2014 "Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân."
Bộ Chính trị đã ban hành nhiều văn kiện cải cách tư pháp quan trọng để nâng cao chất lượng xét xử, hướng tới bảo vệ công lý và quyền con người, như: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 về đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra và Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW. Đến Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII năm 2016, Đảng vẫn tiếp tục khẳng định mục tiêu chiến lược là xây dựng nền tư pháp “trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, từng bước hiện đại; bảo vệ pháp luật, công lý, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyên và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân”. Bằng hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác.
Trải qua hơn 75 năm xây dựng và phát triển, hệ thống TAND đã không ngừng đổi mới cả về tổ chức và hoạt động để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao, nhiệm vụ ngày càng nặng nề đặt ra trong các giai đoạn cách mạng của đất nước. Địa vị pháp lý của tòa án được khẳng định là trung tâm của hoạt động tư pháp; tổ chức bộ máy dần được hoàn thiện; chức năng, nhiệm vụ được tăng cường; chất lượng, hiệu quả công tác không ngừng được nâng cao, hoàn thành tốt các chỉ tiêu, yêu cầu Quốc hội đề ra. Tuy vậy, hiện nay, các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò và chức năng, nhiệm vụ của Tòa án triển khai theo hướng Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý vẫn còn chậm; sự lạm dụng quyền lực chính trị, phục vụ lợi ích cá nhân để chỉ đạo không đúng vào hoạt động xét xử và công tác bổ nhiệm của một số lãnh đạo cấp ủy ở một số nơi còn xảy ra, đi ngược đường lối, chính sách của Đảng, nên đã ảnh hưởng không ít đến việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý của Tòa án.
2. Tính độc lập và uy quyền của Tòa án chưa thật sự đảm bảo
Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người khẳng định: “Hoạt động xét xử không độc lập thì chắc chắn rằng công lý sẽ không được thi hành”. Để xét xử các vụ án một cách khách quan, công tâm, đúng pháp luật thì chủ thể xét xử phải được độc lập và có uy quyền nhất định để không phải kiêng nể hay e dè bất kỳ ai, chỉ biết tôn trọng sự thật và pháp luật để đi theo công lý đến cùng, qua đó quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể được bảo vệ. Hiến pháp năm 2013 và các quy định của luật đã khẳng định: “Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Luật cũng đã quy định cho Tòa án có quyền xử lý đối với những hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án. Tuy nhiên, trong mối quan hệ “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” và Đảng Cộng sản lãnh đạo toàn diện thì vấn đề bảo đảm tính độc lập và uy quyền của Tòa án vẫn còn những tồn tại.
2.1. Trong mối quan hệ giữa Đảng và Tòa án nhân dân
Theo Điều 4 Hiến pháp năm 2013, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Các tổ chức của Đảng và đảng viên phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Thực tiễn đã chứng minh, Đảng đóng vai trò quyết định trong việc xây dựng và phát triển hệ thống Tòa án như ngày nay. Tuy nhiên, dường như chế độ phối hợp cấp ủy địa phương dễ bị lạm dụng để can thiệp sâu vào hoạt động xét xử và công tác bổ nhiệm.
Tòa án các cấp tiếp tục tập trung thực hiện tốt các giải pháp đột phá nhằm đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng công tác giải quyết, xét xử các loại vụ việc và các mặt công tác khác; thực hiện tốt nguyên tắc tranh tụng. Tiếp tục đổi mới phương thức chỉ đạo, điều hành theo hướng phân công, phân cấp hợp lý; phát huy tính sáng tạo và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu. Tăng cường công tác quản lý cán bộ, Thẩm phán; chỉ đạo các Tòa án làm tốt công tác tự kiểm tra và phải coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, kịp thời khen thưởng, vinh danh những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác; đồng thời xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm.
2.2. Trong mối quan hệ giữa cơ quan quyền lực nhà nước với Tòa án nhân dân
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. (theo Điều 69 Hiến Pháp 2013) .Cơ cấu tổ chức của Quốc hội gồm: Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban Quốc hội. Theo quy định của pháp luật, Tòa án nhân dân phải chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội, hoạt động giám sát của ủy ban thường vụ Quốc hội và hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân địa phương cùng cấp. Về cơ bản, Tòa án phải chịu sự giám sát, kiểm soát tương đối toàn diện trước cơ quan đại diện của nhân dân để hạn chế sự lạm quyền nhưng vẫn không làm mất đi tính độc lập và ủy quyền của Tòa án trong quá trình xét xử.
Quyền lực nhà nước, một mặt, là yếu tố cần thiết để duy trì trật tự xã hội; mặt khác, luôn có xu hướng bị lạm dụng bởi những người nắm giữ. Tuy nhiên, trong thực tiễn, cơ quan quyền lực nhà nước khó có tác động trực tiếp đến hoạt động xét xử, nếu có thì chủ yếu thông qua người đứng đầu các Tòa án. Trong trường hợp này, nếu người đứng đầu thiếu bản lĩnh nghề nghiệp và có động cơ tham vọng chính trị, cố gắng làm vừa lòng các vị dân biểu và các quan chức để có cơ hội thăng tiến, thì sẽ gây hại đến tính độc lập trong quá trình xét xử.
2.3. Trong mối quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với Tòa án nhân dân
Tòa án có quan hệ chặt chẽ với các cơ quan hành chính trong việc phối hợp thực hiện thủ tục tố tụng như tống đạt văn bản tố tụng, thẩm tra xác minh tại chỗ, định giá tài sản, yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ... Các luật tố tụng hiện nay đã quy định cho Tòa án có quyền xử lý đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, nhưng đến nay việc triển khai thi hành các quy định này còn rất chậm. Thực tế, trong thời gian qua đã xảy ra nhiều trường hợp cản trở gây khó khăn cho việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý của Tòa án. Ở góc độ khác, trong việc xây dựng dự toán ngân sách hàng năm cho hệ thống Tòa án, Chính phủ là cơ quan có quyền xem xét và trình cho Quốc hội sau khi thống nhất với đề xuất của Tòa án nhân dân tối cao. Quy định này tuy không dẫn đến ngân sách của Tòa án lệ thuộc hoàn toàn vào Chính phủ nhưng cũng đã phần nào thể hiện tính ưu thế của cơ quan hành pháp đối với cơ quan tư pháp.
2.4. Trong mối quan hệ giữa các cơ quan khác trong hệ thống tư pháp và Tòa án nhân dân
Toà án nhân dân là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm. Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và các luật tố tụng, Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Tòa án về nguyên tắc là độc lập khi ra phán quyết, không lệ thuộc vào ý kiến của Viện kiểm sát, nhưng trên thực tế vẫn có trường hợp Tòa án trao đổi trước với Viện kiểm sát khi có quan điểm khác với Viện kiểm sát... Những trường hợp Tòa án và Viện kiểm sát thông qua người đứng đầu thống nhất với nhau về đường lối xét xử, về mức án phạt trong các vụ án hình sự vẫn còn diễn ra, dẫn đến việc xét xử ở một số vụ án chỉ là để hợp thức hóa. Cũng chỉ vì giữ mối quan hệ chặt chẽ với viện kiểm sát mà không ít Tòa án và Thẩm phán đã đánh mất tính độc lập, quá tin vào Viện kiểm sát nên đâ xét xử nhiều vụ án thiếu khách quan, gây ra các án oan sai.
2.5. Trong mối quan hệ trong nội bộ hệ thống Tòa án nhân dân
Theo quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Chánh án là người tổ chức công tác xét xử, chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Chánh án có vai trò quyết định trong việc xét trình hồ sơ bổ nhiệm, trong việc điều động, luân chuyển, biệt phái Thẩm phán... nên có ảnh hưởng rất lớn đến Thẩm phán. Giai đoạn này cần làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, công chức, nhất là kỹ năng điều hành phiên tòa, các văn bản pháp luật mới hướng dẫn đường lối xét xử cho Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân; chú trọng đào tạo thông qua hệ thống truyền hình trực tuyến và động viên cán bộ, công chức tự nghiên cứu, học tập nâng cao trình độ chuyên môn. Tổ chức tốt các phiên tòa rút kinh nghiệm xét xử. Biên soạn đầy đủ hệ thống giáo trình bậc đại học, giáo trình đào tạo nghề; tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên.
Công tác báo án trước khi xét xử rất dễ trở thành cơ hội cho Chánh án có động cơ xấu chỉ đạo không đúng vào công tác xét xử của Thẩm phán, thay vì mục đích đúng là giúp cho hoạt động xét xử độc lập, tuân theo pháp luật, bảo vệ công lý. Mặt khác, Chánh án địa phương đều phải tham gia cấp ủy địa phương (nơi đầu mối lãnh đạo thuộc cơ quan hành pháp), nhiều trường hợp còn phải là đại biểu Hội đồng nhân dân. Với thẩm quyền và có mối quan hệ như vậy, nếu Chánh án là người vụ lợi, thiếu đạo đức nghề nghiệp hoặc có tham vọng chính trị thì hoạt động xét xử của Thẩm phán sẽ bị ảnh hưởng rất lớn, Thẩm phán nào muốn độc lập và chỉ tuân theo pháp luật sẽ bị gây khó dễ (như điều động đi nơi khác, phân án có thiên vị, không lập hồ sơ tái bổ nhiệm...), lúc này nguyên tắc độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật, bảo vệ công lý chỉ còn trên hình thức.
Luật Minh Khuê (Phân tích & Tổng hợp)