1. Quy định về tổ chức ngân hàng

Theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội Khóa X, kì họp thứ 2 thông qua năm 1997, ngân hàng là doanh nghiệp hoạt “ng kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi có kì hạn, không kì hạn để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán.

Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng không bị han chế phạm vi thực hiện nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng như các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, Tổ chức tín dụng là ngân hàng được thực hiện toàn bô hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Còn tổ chức tín dụng phi ngân hàng không được nhận tiền gửi không kì hạn, không được làm dịch vụ thanh toán (Xí. Tổ chức tín dụng).

Trong hệ thống các ngân hàng, ngân hàng trung ương là ngân hàng có nhiều điểm khác biệt. Ở một số nước, ngân hàng trung ương cũng là tổ chức được thành lập dưới hình thức doanh nghiệp (Hoa Kì, Hunggari...). Ở một số nước khác, ngân hàng trung ương lại được thành lập dưới hình thức pháp nhân công quyền (Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam...).

Ở Việt Nam, theo quy định của Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 1997, Ngân hàng nhà nước Việt Nam là cơ quan của Chính phủ và là ngân hàng trung ương của đất nước.

2. Định nghĩa ngân hàng.

Một khái niệm duy nhất, nhưng được phân ra thành năm loại.
Tổ chức tín dụng là một doanh nghiệp, một pháp nhân tiến hành thường xuyên các nghiệp vụ ngân hàng. Theo quy định của điều 8 của luật, các tổ chức sau đây không thuộc phạm trù ngân hàng. Kho bạc nhà nước, ngân hàng quốc gia Pháp, dịch vụ chuyển tiền bằng đường bưu điện, việc phát hành tiền của các lãnh thổ hải ngoại và qũy ký gửi.
Có năm loại tổ chức tín dụng (hay ngân hàng ) giống như trước đó đã có :
Thứ nhất, các ngận hàng làm tất cả các nghiệp vụ ngân hàng;
Thứ hai, các tổ chức tín dụng tương tế hay hợp tác xã tương trợ nhau về vốn;
Thứ ba, các qũy tiết kiệm và các qũy tín dụng đô thị (hai loại qũy này có một nghiệp vụ chung với ngân hàng hiểu theo nghĩa hẹp, nhưng lại có quy định riêng biệt);
Thứ tư, các công ty tài chính;
 Thứ năm, các tổ chức hướng dẫn tài chính chuyên biệt.
- Định nghĩa các "tổ chức chắp nối".
Trước hết đó lànhững "cơ quan trung ương" làm công việc chắp nối liên lạc giữa tuyến các qũy tương tế hay hợp tác xã với trung tâm các .quy tiết kiệm, và có nhiệm vụ kiểm soát chúng (điều 20)
 Đó còn là các "công ty tài chính”, nghĩa là những hold- ingd) kiểm soát nhiều tổ chức tín dụng trong đó có ít nhất một ngân hàng (theo nghĩa hẹp). Nó do một điều khoản của quy định và chịu sự kiểm soát của "tiểu ban ngân hàng" 
- Các trung gian về nghiệp vụ ngân hàng. Điều kiện để được công nhận hành nghề của số trung gian này được  quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của công chúng.

3. Khái niệm về hoạt động ngân hàng.

Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ như nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.

+ Hoạt động nhận tiền: Theo khoản 13 điều 4 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 thì hoạt động nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.

Việc nhận tiền gửi được thực hiện diễn ra liên tục và thường xuyên nhất tại Ngân hàng, việc nhận tiền gửi là một trong những hoạt động giúp cho ngân hàng huy động được nguồn tiền, nguồn vốn để duy trì hoạt động khác của ngân hàng.

+Hoạt động  cấp tín dụng:  Theo khoản 14 Điều 4 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 thì hoạt động cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.

Đây là hoạt động chủ yếu của ngân hàng, việc cấp tín dụng cho một tổ chức hay cá nhân được phép sử dụng được hiểu như một giao kết qua lại giữa các bên khách hàng và ngân hàng đó

+ Hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản: Căn cứ theo khoản 15 điều 4 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 thì hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản được hiểu  là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng.+ Hoạt động cho vay:  Căn cứ tại khoản 16 Điều 4 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 thì hoạt động cho vay được hiểu là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.

 

4. Vai trò của Ngân hàng nhà nước.

Ngân hàng Quốc gia Việt Nam có nhiệm vụ phát hành giấy bạc, điều hòa sự lưu hành tiền tệ; huy động vốn của nhân dân, điều hành và mở rộng tín dụng để nâng cao sản xuất của nhân dân và phát triển kinh tế nhà nước; quản lý ngân quỹ quốc gia; quản lý ngoại tệ và thanh toán các khoản giao dịch với nước ngoài; quản lý kim dung bằng các thể lệ hành chính: thể lệ bằng vàng bạc, thể lệ về quỹ của các doanh nghiệp, quốc gia.

Nói chung, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam làm những công việc để thi hành chính sách tiền tệ, chính sách tín dụng và chính sách ngân hàng của Chính phủ. Ngân hàng Quốc gia Việt Nam tổ chức theo mô hình ở trung ương có Ngân hàng Quốc gia Trung ương. Ở mỗi liên khu, có một chi nhánh Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Mỗi tỉnh và thành phố có một chi nhánh Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Ngoài ra, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam có thể mở chi nhánh ở trong nước hay ngoài nước. Tổng Giám đốc có quyền hạn và danh vị như một Bộ trưởng. Điều đó xác định rõ vị thế của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, ngân quỹ quốc gia, vàng bạc. Nhiệm vụ, quyền hạn và mô hình tổ chức của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam xác định rõ địa vị pháp lý của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam là Ngân hàng Trung ương, đồng thời là một ngân hàng thương mại. Ngay từ khi ra đời, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đã thực hiện đồng thời cả ba chức năng của cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ, chức năng của Ngân hàng Trung ương và chức năng của ngân hàng thương mại. Ngân hàng Quốc gia Việt Nam thực hiện chức năng của Ngân hàng Trung ương là thực thi chính sách tiền tệ, phát hành tiền và điều hòa lưu thông tiền tệ theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ hai (tháng 10/1951) về ngân hàng là: “Nắm vững hai việc chính là phát hành giấy bạc và quản lý kho bạc, thực hiện chính sách tín dụng để phát triển sản xuất" . Đồng thời, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam còn thực hiện hoạt động của ngân hàng thương mại. Đó là, huy động vốn của nhân dân, điều hòa và mở rộng tín dụng để nâng cao sản xuất của nhân dân và phát triển kinh tế nhà nước.

5. Cải tổ cơ quan phụ trách chuyên nghiệp.

a) Hội đồng tín dụng quốc gia và những tổ chức thu hẹp của hội đồng.
- Hội đồng tín dung quốc gia.
Chức vụ chủ tịch được giao cho Bộ trưởng kinh tế và tài chính, phó chủ tịch giao cho Thống đốc ngân hàng quốc gia Pháp. Từ nay, hội đồng có 7 đại diện thành viên trung ương và địa phương được bầu ra, và gồm tất cả 49 thành viên thay vì cho con số 45.
- Ủy ban pháp quy ngân hàng.
Ngoài Bộ trứỏng Bộ kinh tế và tài chính là chủ tịch, Thống đốc ngân hàng quốc gia Pháp là phó chủ tịch, ủy ban này còn có 4 thành viên . ủy ban được giao quyền lập quy tắc tức là ra những quy định chung áp dung đối với các cơ quan tín dụng.
- ủy ban các tổ chức tín dụng.
ủy ban này ra những quyết định cá biệt và đặc biệt, quy định rút giấy phép. Đây là một tổ chức hạn hẹp, có 6 thành viên. Chủ tịch là Thống đốc ngân hàng quốc gia Pháp, giám đốc kho bạc được tham gia và vị này có quyền đặc biệt yêu cầu hoãn thi hành mọi quyết định cá biệt.
b) Các chức trách khác.
- Tiểu ban ngân hàng.
+ Thành phần: Tiểu ban này chỉ khác tiểu ban kiểm soát ngân hàng cũ ở hai điểm: sự có mặt của một thẩm phán các cấp Tòa án và chủ tịch là Thống đốc ngân hàng quốc gia Pháp.
+ Quyền hạn: Tiểu ban được giao quyền điều tra, khảo sát ngày càng rộng và có thể đi đến việc "sửa đổi những phương pháp quản lý" 
+ Phạm vi thẩm quyền: Phạm vi thẳm quyền không những các tổ chức tín dụng mà còn cả các công ty tài chính.
- Các phái viên chính phủ.
Các phái viên này được cử bên cạnh các cơ quan trung ương, và còn được đặt bên cạnh mọi tổ chức tín dụng " được nhà nước giao nhiệm vụ phục vụ lợi ích công cộng" 
-Hiệp hội các tổ chức tín dụng.
Hiệp hội các tổ chức tín dụng Pháp là một hội nghề nghiệp của các nhà ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác.
c) Quan hệ giữa các tổ chức tín dụng và khách hàng.
Việc bảo vệ khách hàng được bảo đảm quá ba con đưòng khác nhau:
- Quyền được mở tài khoản ngân hàng.
Đó là một quyền mặc nhiên được công nhận: người nào bị từ chối nhiều lần có thể yêu cầu Ngân hàng quốc gia .Pháp chỉ định một tổ chức tín dụng có trách nhiệm mở tài khơản cho mình và bảo đảm dịch vụ ngân qũy tối thiểu 
- Bí mật nghiệp vụ.
Quy tắc này được áp dụng cho tất cả các tổ chức tín dụng, và nghĩa vụ đó không chỉ thuộc về những người lãnh đạo hay cán bộ mà cả đối với mọi nhân viên làm công ăn lương trong các tổ chức ấy.
- Quyền mở tín dụng.
Một sự đổi mới nữa về nghiệp vụ ngân hàng, đó là việc không được đình chỉ nửa chừng việc cho vay một cách đột ngột và vô thời hạn đối với một khách hàng . Việc chấm dứt nửa chủng hợp đồng mở tín dụng chỉ được tiến hành thông báo viết sau khi kết thúc thời hạn thông báo được ấn định trước trong hợp đồng cung cấp tín dụng.
Chỉ có châm chước việc thông báo trước trong hai trường hợp: do khách hàng phạm lỗi nghiêm trọng, và do tình hình tài chính của khách hàng không còn cách gì cứu vãn được nữa.

Mọi vướng mắc về các vấn đề pháp lý liên quan đến bài viết , Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài.

Công Ty Luật Minh Khuê xin cảm ơn!!