1. Định nghĩa về Doanh nghiệp
Luật Doanh nghiệp 2020 định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Định nghĩa trên đây thiên về quan điểm công ty là một định chế; như ta đã biết quan niệm này không nêu lên đầy đủ bản chất pháp lý của công ty vốn là sự thoả thuận của một số người góp công góp của để thực hiện một công việc chung nhằm mục đích kiếm lợi. Có ba yếu tố câu thành công ty: phải có nhiều thành viên; cùng nhau góp vốn; và cùng nhau chia xẻ kết quả.
2. Thành viên
Ngoại trừ Doanh nghiệp tư nhân là một loại hình công ty đặc thù, công ty phải có ít nhất từ hai thành viên trở lên. Hai thành viên là đủ để thành lập Công ty hợp danh và Công ty TNHH, nhưng phải cần ba thành viên mớí thành lập được Công ty cổ phần. Con số thành viên tôi đa chỉ được ấn định cho Công ty TNHH là 50 người, còn đốì với Công ty cổ phần thì số lượng thành viên không giới hạn mức tối đa, có thể chỉ là ba người hoặc cả ngàn người; các công ty lớn có số cổ đông lên tới cả triệu. Nguyên tắc này có một ngoại lệ đối với Công ty TNHH một thành viên mà chúng ta sẽ xét sau đây.
Con số tối thiểu thành viên phải hội đủ khi thành lập công ty và phải duy trì trong suôi thời gian hoạt động của công ty. Vấn đề tế nhị đặt ra khi công ty chỉ có một số thành viên tối thiểu: một thành viên qua đời, thành viên duy nhất còn lại chính là thừa kế của người quá cố; hoặc một thành viên mua lại tất cả các phần hùn của các thành viên khác. Khi đó, công ty chỉ có một thành viên duy nhất trái với quy định của pháp luật. Thông thường trong trường hợp này công ty phải bị giải thể. Tuy nhiên, để tránh việc giải thể, thành viên duy nhất còn lại có thể bán cổ phần cho người thứ ba, hoặc tăng vốn công ty để kéo thêm các thành viên mới.
3. Phần góp vốn
Mỗi thành viên bắt buộc phải đóng góp vốn; bằng hành động này họ chứng tỏ ý chí muôn thành lập công ty.
Phần góp vốn là tài sản (tiền, bất động sản, cửa hàng, bằng sáng chế...) mà thành viên chuyển quyền sở hữu hay quyền sử dụng cho công ty, đổi lại thành viên sẽ nhận được một số phần hùn hoặc cổ phần tương ứng. Vốn góp tạo thành sản nghiệp ban đầu của công ty, nó có thể không đồng đều nhau hoặc bản chất khác nhau. Nhưng phần góp vốn phải có thật, không có hùn hiệp hoặc phần góp vốn có tính cách giả tạo có thể dẫn đến hậu quả công ty bị vồ hiệu. Bị coi là giả tạo khi phần góp vốn là một tài sản không có giá trị (bằng sáng chế đã hết hạn) hoặc một tài sản mang nợ lớn hơn trị giá của nó. Việc cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế là một vi phạm luật kinh doanh khiến thành viên góp vốn phải chịu ưách nhiệm.
Có ba loại góp vốn: góp vốn bằng tiền mặt, góp vốn bằng hiện vật, góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Góp vốn bằng tiền mặt là hình thức thông thường nhất. Luật không ấn định mức đóng góp tiền mặt tối thiểu cho mỗi thành viên trong Công ty hợp danh hay Công ty TNHH; còn đối với Công ty cổ phẫn, mức tôi thiểu này là mệnh giá của một cổ phiếu. Ngoài ra, theo Luật Doanh nghiệp 2020 (Điều 120) trong ba năm đầu kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, các cổ đông sáng lập Công ty cổ phần phải cùng nhau nắm giữ ít nhát 20% số cổ phần phổ thông được quyền giao bán và phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Trong hồ sơ đăng ký kinh doanh phải kèm theo danh sách thành viên, cổ đông trong đó ghi rõ thời hạn góp vốn.
Việc góp vốn bằng tiền có thể thực hiện bằng tiền mặt hoặc bằng chi phiếu hay lệnh chuyển ngân. Trường hợp thành viên không góp vốn trong thời hạn quy định thì đương nhiên phải chịu lãi trên số tiền còn thiếu kể từ ngày chậm thanh toán theo lãi suất luật định hay do bản điều lệ quy định.
Việc góp vốn bằng hiện vật có thể là một động sản; có thể là hữu hình hay vô hình. Khó khăn trong việc góp vô'n bằng hiện vật là việc định giá, vì thành viên góp vốn bằng hiện vật luôn có khuynh hương định giá cao phần góp vô'n của mình, điều này sẽ làm thiệt hại quyền lợi cua người thứ ba bởi vì vốn của công ty, vật bảo đảm cho các chủ nợ của công ty không đúng với thực tế. Điều này cũng làm thiệt hại đến quyền lợi của các thành viên góp vốn bằng tiền. Họ chỉ nhận được một số phần hùn hay cổ phần tương ứng đúng với số tiền góp vốn, chỉ có số phiếu biểu quyết tương ứng và được chia cổ tức tương ứng. Để tránh mọi lạm dụng, nhà làm luật đã dự liệu một số biện pháp như: đối vơi tài sản góp vốh khi thành lập doanh nghiệp, việc định giá phải được các thành viên, các cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí; nếu tài sản góp vồn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vôn tại thời điểm kết thúc định giá.
Đốì với tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, do doanh nghiệp và người góp vốn thoả thuận định giá, hoặc do một tổ chức chuyên nghiệp định giá. Nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế vào thời điểm góp vốn thì người góp vốn (hoặc tổ chức định giá) và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cùng liên đới chịu trách nhiệm như trên (Điều 36 Luật Doanh nghiệp 2020).
về vấn đề này quy định của Luật Doanh nghiệp 1999 hơi khác (Điều 23): người góp vốn và người định giá phải cùng nhau góp đủ số vốn như đã được định giá; nếu gây thiệt hại cho người khác thì phải liên đới chịu ttách nhiệm bồi thường.
Góp vốn bằng hiện vật có thể là đóng góp quyền sở hữu một tài sản hay quyền sử dụng một tài sản. Đóng góp quyền sở hữu được thực hiện bằng cách chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho công ty đồng thời giao nạp tài sản cho cộng ty. Hình thức góp vốn này giông như việc đoạn mại: thành viên góp vốn có nghĩa vụ bảo đảm cho công ty như một người bán đôi với người mua, tức là bảo đảm về sự truy đoạt hay các ẩn tỳ của tài sản (Điều 445, 444 Bộ luật Dân sự 2015).
Việc chuyển quyền sở hữu tài sản cho công ty chỉ phải thực hiện sau khi công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh bởi vì chỉ từ khi đó công ty mới có tư cách pháp nhân và có quyền có sản nghiệp riêng, cần phân biệt: đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đất, thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu đó hoặc quyền sử dụng đất cho cộng ty tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản (Điều 33 Luật Doanh nghiệp 2020).
Nếu người góp vốn chỉ góp quyền sử dụng tài sản thì công ty có toàn quyền sử dụng tài sản, nhưng quyền sở hữu tài sản vẫn thuộc vế người góp vốn. Như vậy, không có vấn đề chuyển quyền sở hữu, người góp vốn chỉ có nghĩa vụ bảo đảm cho công ty được sử dụng yên ổn tài sản giông như nghĩa vụ của người cho thuê đối với người thuê trong hợp đồng thuế tài sản. Hình thức góp vốn này có lợi cho người góp vốn vì khi công ty bị giải thể họ sẽ được lây lại tài sản, VÌ tài sản này không nằm trong sản nghiệp của công ty, do đó không thể bị các chủ nợ của công ty kê biên.
Trong Công ty hợp danh, nhất là trong công ty nghề nghiệp, thành viên có thể góp vốn bằng sức lao động của mình: thành viên cam kết cung cấp cho công ty các hiểu biết chuyên môn, sức lao động của mình. Người góp vốn phải thực hiện các dịch vụ đã hứa cho công ty và chuyển giao cho công ty mọi khoản thu nhập từ hoạt động là đối tượng của việc góp vốn. Người này không được làm riêng một công việc khác tương tự với công việc đã góp vốn vào công ty.
4. Tham gia vào kết quả kinh doanh
Mục đích của công ty là thực hiện các hoạt động kinh doanh, và mục đích của kinh doanh là sinh lợi. Nhưng việc kinh doanh không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió, không thiếu những công ty đã gánh chịu lỗ và bị phá sản. Do đó, nếu các thành viên công ty được chia lãi thì đồng thời cũng phải gánh chịu lỗ nếu có.
Mục đích sinh lợi chính là yếu tố phân biệt giữa công ty và hiệp hội. Hiệp hội theo đuổi mục đích không vụ lợi, nhưng vấn đề ở đây là cần phải hiểu thế nào là “sinh lợi”? Có quan điểm cho rằng “lợi” phải hiểu là lợi lộc tiền bạc hoặc vật chất làm tăng thêm tài sản của thành viên. Lợi lộc bằng tiền thể hiện bằng tiền lãi hay cổ tức được chia cho các thành viên. Lợi lộc vật chát có thể là việc phân chia cho các thành viên những san’pham do công ty làm ra, các cổ phần mới, hoặc là cho thành viên được hưởng dụng một tài sản chung. Mỗi năm các thành viên được triệu tập để quyết định về số lợi tức đem phân chia và cách thức phân chia.
Còn lợi ích kinh tế có thể là: thành viên được mua hàng hoá với giá rẻ. vấn đề là lợi ích kinh tê có phải là đăc trưng của công ty không? Bởi vì trên thực tế các thành viên không được phân chia tiền lãi hay lợi ích vật chất nào cả.
Tóm lại: nêu một tổ chức được thành lập để đem lại cho các thành viên lợi lộc về tiền bạc hay vật chất thì bắt buộc phải có hình thức công ty. Trái lại, nếu tổ chức được thành lập để theo đuổi các mục đích không vụ lợi và không vì tìm kiếm một lợi ích vật chất nào, thì phải có hình thức một hiệp hội (quỹ xã hội, quỹ từ thiện, hội văn hoá hay thờ phụng...). Trường hợp thứ ba có thể gây tranh luận là: tổ chức được thành lập để cho các thành viên được hưởng lợi ích kinh tế như nói trên (mua hàng rẻ, hưởng dịch vụ rẻ). Có quan điểm cho rằng trong trường hợp này tổ chức có thể đưực thành lập hoặc dưới hình thức công ty hay hiệp hội.
Nếu các thành viên công ty được hưởng lợi lộc khi công tỹ làm ăn có lãi, thì ngược lại họ cũng phải gánh chịu lỗ khi công ty thất bại. Lỗ được xác định khi giải thể công ty; mỗi thành viên sẽ phải gánh chịu một phần lỗ tỷ lệ vổi phần góp vốn. Không nên lầm lẫn lỗ với các khoản nợ của công ty. Nếu sau khi đã thanh toán tất cả các khoản nợ của công ty, tài sản có của công ty chỉ còn lại hai phần ba vốn, thì lỗ là một phần ba trong khi tất cả các khoản nợ đã được thanh toán.
Nghĩa vụ về các khoản nợ là quan hệ giữa thành viên và các chủ nợ của công ty. Nghĩa vụ này bao quát hay có giới hạn tuỳ theo hình thức công ty chứ không thể do Điều lệ quy định. Thành viên hợp danh trong Công ty hợp danh chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn định về các khoản nợ của công ty; nhưng giữa các thành viên thì số nợ được phân chia và người nào đã trả nợ thì có quyền kiện lại những người kia.
Trên nguyên tắc thì việc phân chia lời lỗ giữa các thành viên công ty được thực hiện theo tỷ lệ phần góp vốn. Tuy nhiên, Điều lệ công ty có thể dự liệu một sự phân chia lời lỗ đồng đều dù phần góp vốn không đồng đều, hoặc ngược lại một sự phân chia không đồng đều mặc dù phần góp vô'n bằng nhau. Trong Công ty cổ phần chẳng hạn, có thể có các cổ phần ưu đãi, chủ sở hữu của các cổ phần này có nhiều quyền lợi hơn chủ sở hữu cổ phần phổ thông với cùng một mệnh giá. Tuy nhiên, sẽ bị coi là vô hiệu điều khoản trong Điều lệ dành cho một thành viên toàn bộ tiền lãi của công ty hoặc miễn cho một thành viên không phải chịu lỗ, hay buộc một thành viên phải chịu toàn bộ lỗ của công ty. Một điều khoản như thế không khiến công ty bị vô hiệu, mà sẽ được xem là không hiện hữu, lỗ lãi được phân chia theo nguyên tắc chung. Cũng bị coi là vô hiệu điều khoản dự liệu rằng các thành viên sẽ được chia lãi trong mọi trường hợp dù rằng công ty không có lãi.
5. Ý muốn hùn hiệp
Khi phải xét xem giữa hai hay nhiều người có hiện hữu một công ty thực tại hay không, người ta thường phải xem xét giữa họ có hay không ý muốn hùn hiệp. Giữa hai người nam nữ sông chung với nhau như vợ chồng mà không có hôn thú, khi cuộc sông chung chấm dứt vấn đề đặt ra là giữa họ có một công ty thực tại hay không, từ đó mới có thể quyết định việc phân chia tài sản giữa họ với nhau. Tiêu chuẩn để xem xét là giữa họ có ý muôn hùn hiệp hay không: nếu hai người bạn ngoại hôn đã có ý chí kinh doanh trên một cương vị bình đẳng, cùng nhau chia lãi và chịu lỗ, thì khi đó giữa họ có một công ty thực tại. Riêng việc hai người sống chung với nhau không đủ tạo thành một công ty. Một người thợ được trả công dưới hình thức được chia lãi không phải là một thành viên góp vốh bằng sức lao động nếu người đó ở dưới một quan hệ thông thuộc. Giữa họ và công ty có một hợp đồng lao động; ý muôn hùn hiệp tiên niệm phải có sự bình đẳng giữa các thành viên, ngoài mọi quan hệ thông thuộc.
Ý muốn hùn hiệp cũng là một yếu tố để xác định các công ty ma. Đó là trường hợp khi những người tự cho là thành viên công ty thực ra chỉ là người cho mượn tên.