- 1. Phẩm hàm là gì?
- 2. Tước hiệu là gì?
- 3. Tìm hiểu về tuyển dụng, sử dụng quan lại thời phong kiến Việt Nam
- 3.1 Tuyển dụng quan lại
- 3.2. Phân loại, sắp xếp bố trí quan lại
- 3.3. Về biên chế, phân bổ quan lại
- 3.4. Về chế độ trách nhiệm
- 3.5. Vấn đề giám sát, thanh tra, khảo khóa
- 3.6. Chế độ đãi ngộ, thưởng phạt quan lại
1. Phẩm hàm là gì?
Phẩm hàm thứ bậc và hàm của các quan lại phong kiến, đây là danh hiệu của triểu đình phong kiến.
Phẩm hay còn gọi là phẩm hàm thường được dùng để ban tước vị cho các quan lại. Hệ thống quan lại phong kiến Việt Nam thường được chia làm hai ban: văn - võ, được gọi là Văn giai và Võ giai. Theo thứ tự cao thấp từ nhất phẩm đến cửu phẩm. Trong mỗi phẩm hàm lại chia thành hai cấp bậc: Chánh (Chính) và Tòng (Tùng). Như vậy hệ thống quan chế gồm tất cả 18 cấp bậc từ cao tới thấp: Chánh Nhất phẩm, Tòng Nhất phẩm, Chánh Nhị phẩm, Tòng Nhị phẩm v.v… cho đến Chánh Cửu phẩm, Tòng Cửu phẩm .Trong mỗi cấp bậc đều có hai ban văn, võ. Quan lại đứng đầu triều đình thuộc hàm Nhất phẩm. Đứng đầu các Bộ (Lại, Lễ, Hộ, Binh, Hình, Công. Sau này có thêm bộ Học) là quan Thượng thư (hàm Nhị phẩm). Đứng đầu các vùng hành chính cũng là một chức quan hàm Nhị phẩm là Tổng đốc (phụ trách hai hay ba tỉnh thành).
Cửu phẩm là tước vị thấp nhất, thường được dùng để ban cho quan lại, không chỉ ở triều đình mà còn ở các địa phương, làng xã. Quan thường được ban phẩm, nhưng cũng có một số quan không được ban phẩm. Ngược lại một số người không phải là quan nhưng có công đức cao vẫn được vua ban phẩm.
Để định vị trí cao thấp của hệ thống tên tước, phải căn cứ vào đơn vị Tư. Người càng có nhiều tư thì càng có tước cao. Tư là đơn vị của hàng Tòng Cửu phẩm, tức Tòng Cửu phẩm có 1 tư. Chánh Cửu phẩm có 2 tư. Hàng Tòng Bát phẩm có 3 tư. Hàng Chánh Bát phẩm có 4 tư v.v .. Như vậy hàng cao nhất là Chánh Nhất phẩm có 18 tư.
Hệ thống tước hiệu của triều Lê được áp dụng dưới triều Nguyễn và còn được bổ sung thêm nhiều tước vị.
2. Tước hiệu là gì?
Tước hiệu là tôn hiệu của vua ban cho người trong hoàng tộc hay những người có công với đất nước, với triều đình. Quyền phong tước là đặc quyền của vua và những người được phong tước luôn coi đó là một ân điển.
Để rõ thêm, ta cần phân biệt hai định chế: chức và tước. Theo định nghĩa của các nhà khảo cứu pháp chế sử thì: chức là một trách vụ trong bộ máy chính quyền, còn tước là tôn hiệu danh dự, không hàm ý trách nhiệm và quyền hành.
Tước gồm nhiều bậc, chủ yếu 6 bậc sau: Tước Vương, Tước Công, Tước Hầu, Tước Bá, Tước Tử, Tước Nam.
3. Tìm hiểu về tuyển dụng, sử dụng quan lại thời phong kiến Việt Nam
3.1 Tuyển dụng quan lại
Nhìn lại lịch sử phong kiến Việt Nam, có thể nhận thấy pháp luật rất chú trọng, quan tâm tới những người làm việc trong bộ máy nhà nước, trước hết là chế độ tuyển dụng, trọng dụng nhân tài, đề cao đạo đức người làm quan. Người làm quan phải là người quân tử: chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ; đạo làm quan cốt ở hai điều "trên thì yêu vua, dưới thì yêu dân". Bên cạnh đó, người làm quan phải là người có tài "dựng nước lấy học làm đầu, cần trị lấy nhân làm gốc". Người tài không chỉ dựa vào bằng cấp, khoa cử, mà phải được kiểm nghiệm bằng thực tế, lấy kết quả công việc để đánh giá và sử dụng tài năng. Vì thế, có nhiều người là hoàng thân, quốc thích nhưng không có tài thì chỉ được nhà vua phong hàm, phong tước để hưởng bổng lộc của triều đình, nhưng không được giao quyền để giải quyết, điều hành các công việc. Nhờ vậy, nhà nước phong kiến Việt Nam đã quản trị được đất nước trong những điều kiện rất khó khăn, đặc biệt là khi có giặc ngoại xâm.
Để chọn nhân tài, nhà nước phong kiến Việt Nam đã áp dụng nhiều hình thức tuyển dụng như: nhà vua đích thân đi tìm người hiền tài về cộng tác để trị nước (tiến cử); bằng con đường tiến cử hoặc cầu hiền; bằng con đường khoa cử - đây là hình thức phổ biến nhất.
3.2. Phân loại, sắp xếp bố trí quan lại
Thời phong kiến dựa vào yếu tố quyền lực, các chức vụ nhà nước phân thành hai loại: quan lại và nha lại. Quan chỉ huy, điều hành như quan tổng đốc, quan tri phủ, tri huyện; nha lại là người thừa hành, phục vụ cho các quan lại tại các nha môn, mà ngày nay gọi là "cán bộ", "nhân viên", hay công chức lãnh đạo, quản lý, công chức thừa hành.
Đối với đội ngũ quan lại, nhà nước phong kiến Việt Nam áp dụng chế độ thuyên chuyển, điều động, nhưng nha lại thì giữ ổn định, áp dụng chế độ "quan khứ nha tồn”. Để tạo môi trường mới, phát huy được tính năng động, sáng tạo của người làm quan, đồng thời để tránh những trì trệ, hoặc kéo bè, kéo cánh, phe phái, tham nhũng, nhà nước phong kiến Việt Nam đã áp dụng chế độ thuyên chuyển quan lại. Nhưng việc thuyên chuyển chỉ thuần túy là thuyên chuyển về không gian, địa điểm làm quan, mà không chuyển tính chất công việc làm quan, ví dụ quan tri phủ ở phủ này chuyển đi làm tri phủ ở phủ khác, hoặc làm tri huyện. Đây là bài học có tính lịch sử cần phải suy ngẫm khi thực hiện công tác luân chuyển cán bộ hiện nay.
3.3. Về biên chế, phân bổ quan lại
Các triều đại phong kiến Việt Nam thường dựa vào tiêu chí dân số để quy định về số lượng quan lại. Thời vua Lê Thánh Tông quy định: từ 500 hộ trở lên có 5 xã trưởng; 300 hộ có 4 xã trưởng; 100 hộ có 2 xã trưởng, dưới 60 hộ cử 1 xã trưởng. Năm 1839 thời vua Minh Mạng thứ 20, lấy số lượng và nhu cầu công việc là tiêu chí cơ bản để quyết định biên chế, phân bổ số quan lại, các chức trách của quan, lại dần được chuyên môn hóa. Trong chỉ dụ vua Minh Mạng năm 1831 có viết "Bắc thành 11 trấn rất rộng... việc nhiều, các địa phương ấy các việc quân dân, kiện tụng, tiền lương, thuế khóa, thực là bề bộn. Cần phải chiểu theo địa hạt chia người coi giữ có chuyên trách". Nói theo ngôn ngữ ngày nay thì người xưa đã dựa vào việc để định số lượng người chứ không phải dựa vào lượng người để định việc, đã áp dụng chế độ "công vụ theo việc làm".
Bên cạnh đó, pháp luật phong kiến Việt Nam còn áp dụng chế độ "hồi tị" đối với quan lại. Việc sắp xếp quan lại ở các địa phương được quy định khá chi tiết như "người sinh ra ở vùng này tới cai trị vùng khác, thậm chí "các quan viên có nhà ở gần bản nha môn thì Bộ Lại nên đổi đi nơi khác. Luật Hồng đức còn cấm quan lại địa phương lấy vợ tại địa phương mình cai quản. Trong Chiếu tháng 9/1488 của Hồng Đức có quy định việc sắp đặt quan lại tránh quan hệ họ hàng: "Khi xét đặt xã trưởng, hễ là anh em ruột, con chú bác và bác cháu, cậu cháu với nhau thì chỉ có một người làm xã trưởng, không được cùng làm để gây mối tệ bè phái hùa nhau". Những quy định này nhằm tạo nên một chế độ quan lại liêm chính, không bị chi phối bởi quan hệ họ hàng, dòng tộc, làng – xã mà làm sai lệch việc công hay tham nhũng.
Đây chính là chế độ bảo đảm cho sự khách quan, trung thực trong giải quyết các công việc của nhà nước, tránh thiên vị, nể nang, hay thù oán, làm mất tính khách quan khi đưa ra các quyết định.
3.4. Về chế độ trách nhiệm
Nhằm tránh sự ỷ lại hay đùn đẩy, trốn tránh trách nhiệm, năm 1487 vua Lê Thánh Tông ra chỉ dụ buộc quan lại các cấp khi nhận được chỉ dụ của Vua phải đưa ra bàn bạc thật kỹ, không được hùa theo hay nín lặng không nói gì, khi cần có thể tâu lên Vua. Ngoài ra còn quy định chế độ hợp tác trong công việc giữa các quan chức khác nhau, khi có vấn đề quan trọng cần tấu lên Vua các quan phải cùng nhau ký vào. Thời vua Minh Mạng có quy định tương tự: "Tuần phủ khi có chính sự lớn lao về hưng lợi, trừ tệ thì cùng với Tổng đốc bàn bạc rồi cùng ký tâu chung một giấy. Nếu có ý kiến khác nhau cho làm tờ tấu riêng".
Sau năm 1945, ở nước ta đã áp dụng chế độ tiếp ký, nhưng sau này chế độ tiếp ký không còn, từ đó cũng dễ dẫn đến tình trạng “đổ lỗi cho nhau”, công của tôi, lỗi của anh và được biện minh bằng một câu thiếu trách nhiệm “tôi bảo lưu ý kiến”, mặc dù đều ngồi bàn và ra quyết định.
3.5. Vấn đề giám sát, thanh tra, khảo khóa
Dưới triều vua Nguyễn, việc sát hạch là việc làm thường xuyên do Bộ Lễ thực hiện và giao cho Bộ Lại xét bổ được tiến hành nghiêm minh, thưởng phạt rõ ràng.
Việc giám sát do Đô sát viện thực hiện, do Nhà vua trực tiếp điều khiển. Đây là cơ quan giám sát và tư pháp, hoạt động độc lập, không chịu sự kiểm sát của bất cứ một cơ quan nào (triều vua Minh Mạng năm 1832).
Về thanh tra, triều đình cử quan đại thần đi "kinh lược đại sứ" với quyền hạn khá lớn đi thanh tra khắp nơi để giúp dân cởi bỏ oan tình, thẳng tay trừng trị những quan lại tham nhũng, hại dân, bán nước, sách nhiễu nhân dân.
Ngoài ra, việc khảo khóa cũng được quan tâm, kết quả khảo khóa được xem là cơ sở để thăng chức, giáng chức "khảo khóa là cách để xem xét quan lại. Truất người hèn, thăng người giỏi". Để bảo đảm tính khách quan, minh bạch trong khảo khóa, pháp luật thời phong kiến còn quy định: "Quan khảo hạch dám có tư tính xét bậy, Bộ Lại khảo xét không minh, Lại khoa xét bắt không sáng suốt đều phải giao sang Hình bộ theo luật chịu tội". Thời Nguyễn việc khảo khóa được quy định theo thời hạn. Ngày nay, việc đánh giá cán bộ, công chức tuy được tiến hành hàng năm, nhưng tiêu chí khá chung chung và luôn tồn tại tình trạng “tôi ủng hộ anh”, “anh ủng hội tôi” dẫn đến tình trạnh “hòa cả làng”. Phải chăng việc đánh giá đó còn mang tính hình thức, chưa xác thực.
3.6. Chế độ đãi ngộ, thưởng phạt quan lại
Từ thời vua Lê Thánh Tông trở đi, bổng lộc của quan lại được quy định theo chức tước, phẩm hàm và tuỳ theo khối lượng công việc, thực chất là áp dụng nguyên tắc trả lương theo việc làm và công trạng. Bên cạnh chế độ tiền lương, các triều đình phong kiến còn áp dụng chế độ tiền "dưỡng liêm" (theo nghĩa đen là nuôi dưỡng liêm khiết) cấp cho những viên quan cai trị gần dân như tri phủ, tri huyện nhằm khuyến khích "đức thanh liêm", nhưng không phát đồng đều cho các tất cả các tri phủ, tri huyện mà tùy thuộc vào nhiều hay ít công việc của từng phủ, từng huyện.
Chế độ quan lại thời phong kiến còn đặc biệt chú trọng tới trách nhiệm của các quan lại trong thừa hành công vụ. Quốc triều Hình luật có nhiều quy định mang tính chất trừng trị nghiêm khắc như: phạt do để chậm trễ chiếu chỉ công văn giấy tờ (Điều 23), quan do vô tình dùng dằng để lỡ mất việc, nếu việc nhỏ (công việc hàng ngày) xử tội biếm, việc thường (công việc hàng tháng) xử tội đồ, việc lớn (công việc hàng năm) xử tội lưu (Điều 136). Bên cạnh đó còn có những quy định khác như: đối với quan tại chức, không đến nơi làm việc mà không có lý do thì bị xử phạt biếm hoặc bãi chức (Điều 4), nếu ở sở làm mà ngồi không đúng phép sẽ bị xử tội Biếm hoặc phạt tiền (Điều 33). Những quy định này khá mẫu mực để thiết lập một trật tự kỷ cương, chế độ phục vụ.
Ngày nay, chúng ta cũng áp dụng các biện pháp xử lý kỷ luật đối với cán bộ, gồm khiển trách, cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm. Cán bộ phạm tội bị tòa án kết án và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên thôi giữ chức vụ do bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm; trường hợp bị tòa án phạt tù mà không được hưởng án treo thì đương nhiên bị thôi việc. Đối với công chức áp dụng các biện pháp khiển trách; cảnh cáo; hạ bậc lương; giáng chức; cách chức; buộc thôi việc. Tuy nhiên, hiện nay việc áp dụng các biện pháp kỷ luật đối công chức dường như rất khó khăn trong thực tiễn.
Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)