- 1. Khái niệm thương mại quốc tế theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
- 2. Khái niệm về Hợp đồng chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu
- 3. Luật điều chỉnh đối với hợp đồng chuyên chỗ bằng tàu chợ (thuê tàu chợ)
- 4. Luật điều chỉnh đối với hợp đồng chuyên chở chuyến (thuê tàu chuyến)
- 5. Vai trò thương mại quốc tế
1. Khái niệm thương mại quốc tế theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
“Thương mại quốc tế" là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực kinh tế của các quốc gia trên thế giới.
Thương mại quốc tế đó là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất qua biên giới giữa các quốc gia, hoặc/và là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất giữa các tổ chức cá nhân trong nước với đối tác nước ngoài.
Theo tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) xem xét thương mại quốc tế trên 4 lĩnh vực chủ yếu, đó là:
- Thương mại hàng hoá;
- Thương mại dịch vụ;
- Thương mại liên quan đến đầu tư; và
- Thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, phạm vi nghiên cứu và thực tiễn các chính sách quản lý đối với thương mại quốc tế đã được mở rộng ra nhiều lĩnh vực và chủ thể hơn, như liên quan đến mối quan hệ giữa con người với con người như lao động việc làm, quyền con người..., và mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên như môi trường, ...
2. Khái niệm về Hợp đồng chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu
Thông thường trong thương mại quốc tế, người bán và người mua có hàng nhưng không có tàu biển để chuyên chở, vì vậy để thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thương, người bán hoặc người mua phải đi thuê tàu để chở hàng. Đi thuê tàu để chở hàng hóa xuất nhập khẩu chính là việc ký kết hợpvđồng chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển.
Hợp đồng chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển là sự thỏa thuận được ký kết giữa người chuyên chở và người thuê chở, theo đó người chuyên chở có nghĩa vụ dùng tàu biển để chở hàng từ cảng này đến cảng khác nhằm thu tiền cước do người thuê chở trả.
Theo quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015 (được Quốc hội thông qua ngày l4/6/2005, có hiệu lực ngày 01/01/2006), hợp đồng chuyên chở hàng hóa bằng đường biển là hợp đồng được giao kết giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển, theo đó người vận chuyển thu tiền cước vận chuyển do người thuê vận chuyển trả và dùng tàu biển để vận chuyển hàng hóa từ cảng nhận hàng đến cảng trả hàng
Chủ thể của hợp đồng chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển là người chuyên chở và người thuê chở. Người chuyên chở có thể là chủ tàu, người chuyên chở chuyên nghiệp hoặc người quản lý tàu. Người thuê chở có thể là chủ hàng (người bán, người mua) hoặc người nhận ủy thác của chủ hàng ký hợp đồng chuyên chở. Người nhận hàng là người có quyền nhận lô hàng ghi trong hợp đồng chuyên chở, người nhận hàng thường là người mua hàng, còn người gửi hàng thường là người bán. Như vậy tham gia và có liên hệ tới hợp đồng chuyên chở hàng hóa bằng đường biển thường là người chuyên chở, người bán và người mua hàng. Trong thực tế có nhiều trường hợp người bán (người gửi hàng) ký hợp đồng chuyên chở với người chuyên chở, nhưng người nhận hàng ở cảng đến lại là ngươi mua. Song cũng có trưòng hợp người nhận hàng (người mua) ký hợp đồng chuyên chở với ngươi chuyên chở, nhưng người gửi hàng ở cảng đi lại là người bán. Trong trương hợp thứ nhất, tuy không phải là người ký hợp đồng chuyên chỗ nhưng khi nhận hàng thấy hang bị thiếu, bi đổ vỡ hư hỏng, người nhân hàng có quyền khiếu nại người chuyên chở. Trong trường hợp thứ hai, người gửi hàng (người bán thực hiện nghĩa vụ gửi hàng theo thông báo của người nhận hàng (người mua) để thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng mua bán ngoại thương.
Để chuyên chở hàng hóa, người thuê chở có thể ký hợp đổng thuê toàn bộ hoặc một phần con tàu để chở hàng từ cảng này đến cảng khác gọi là hợp đồng thuê tàu chuyến hoặc là thuê một chỗ xếp hàng trên con tàu chay theo lịch trình nhất định để chở hàng cũng từ cảng này. tới cảng khác gọi là thuê tàu chợ (hay hợp đồng chuyên chở bằng tàu chợ).
3. Luật điều chỉnh đối với hợp đồng chuyên chỗ bằng tàu chợ (thuê tàu chợ)
Luật điều chỉnh hợp đồng chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu bằng tàu chợ là điều ước quốc tế, luật quốc gia và tập quán hàng hải.
- Điều ước quốc tế
Từ năm 1924 trở về trước chưa có điều ước quốc tế nào được ký kết để điều chỉnh hợp đồng thuê tàu chợ. Vì vậy chủ tàu, người chuyên chở thường căn cứ vào luật nước mình để đưa vào vận đơn các điều khoản về nghĩa vụ và trách nhiệm của người chuyên chở, do vậy gây nhiều phản ứng cho các chủ hàng - người thuê chỏ. Để thông nhất những nguyên tắc về nghĩa vụ và trách nhiệm của người chuyên chỗ và người thuê chở, ngày 25/8/1924 tại Brucxen (Bỉ) đại diện của 26 nước đã ký "Công ước quốc tế để thông nhất một số quy tắc về vận đơn đường biển" (The International Convention for Unification of certain of law relating to bill of lading) và thường gọi là Công ước Brucxen 1924 hoặc Quy tắc Hague.
Công ước Brucxen 1924 có các điều khoản về nội đung của vận đơn đường biển, về nghĩa vụ và trách nhiệm của người chuyên chở, các căn cứ miễn trách nhiệm cho người chuyên chở, nghĩa vụ thông báo tổn thất hàng hóa của người nhận hàng, giới hạn trách nhiệm bồi thường v.v...
"Hàng hóa" thuộc sự điều chỉnh của Công ước Brucxen 1924 gồm tất cả của cải, đồ vật, hàng hóa, vật phẩm bất kỳ tính chất nào, kể cả hàng hóa theo hợp đồng chuyên chở được khai là hàng xếp trên boong và trong thực tế được chuyên chở như súc vật sống được chuyên chở bằng tàu biển dưới hình thức vận đơn đường biển theo Công ước này, nghĩa là không được dùng Công ước để điều chỉnh.
Phạm vi áp dụng Công ước Brucxen 1924: Công ước Brucxen 1924 áp dụng cho những hợp đồng chuyên chồ hàng hóa bằng đường biển dưới hình thức vận đơn đường biển/hoặc một văn kiện tương tự có giá trị chứng khoán trong việc chuyên chở hàng hóa bằng đường biển, tức áp dụng cho những hợp đồng chuyên chở hàng bằng tàu chợ. Công ước cũng được áp dụng cho những vận đơn được cấp phát, chiếu theo một hợp đồng thuê tàu chuyến kể từ khi vận đơn điều chỉnh quan hệ giữa người chuyển hàng và người nhận hàng.
Ngày 23/2/1968 tại Hội nghị quốc tế về luật biển lần thứ 12, 47 nước đã ký "Nghị định thư sửa đổi Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc về vận đơn đường biển" (thường gọi là Nghị định thư 1968 hay là Quy tắc Visby). Nghị định thư 1968 đã sửa đổi, bổ sung một số điều khoản của Công ưóc Brucxen 1924: về thời hiệu khởi kiện, giới hạn bồi thường, đồng tiền bồi thường và phạm vi áp dụng Công ước. Công ưóc Brucxen 1924 gộp với Nghị định thư 1968 có tên gọi là Quy tắc Hague/Visby. Năm 1979, các bên ký kết Quy tắc Hague/Visby đã ký kết Nghị định thư bổ sung Công ước Brucxen 1924, đã được Nghị định thư 1968 bổ sung. Nội dung bổ sung liên quan đến đồng tiền tính toán bồi thưòng về mất mát, hư hỏng hàng hóa. Đồng SDR (quyền rút vốn đặc biệt) được thay thế cho đồng phơ-răng Pháp.
Công ước Brucxen 1924 cũng như Quy tắc Hague/Visby mang tính chất bắt buộc đối với những nước phê chuẩn, là nguồn luật điều chỉnh quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên theo hợp đồng chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu bằng tàu chợ. Ngoài ra, có những nước, trong đó có Việt Nam, chưa phê chuẩn Công ước nhưng thực tế vẫn áp dụng Công ước để điều chỉnh hợp đồng chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu bằng tàu chợ.
Ngày 30/3/1978, tại Hamburg đã ký kết "Công ước Liên hợp quốc về chuyên chở hàng hóa bằng đường biển (United Nation Convention on the Carriage of goods by sea) thường gọi là Công ước Hamburg 1978 hay là Quy tắc Hamburg. Công ước này đã có hiệu lực năm 1992.
So với Công ước Brucxen 1924, trong Công ước Hamburg 1978 khái niệm hàng hóa được mở rộng (cả hàng tươi sông) nghĩa vụ và trách nhiệm của người chuyên chở được quy định tăng lên, căn cứ miễn trách nhiệm cho người chuyên chở giảm đi v.v... Do Công ước Hamburg quy định trách nhiệm cửa người chuyên chở khả nặng cho nên các chủ tàu không muốn áp dụng. Đó cũng là một lý do giải thích tại sao cho đến nay có rất ít nước phê chuẩn Công ước này.
- Luật quốc gia
Ngoài Công ước Brucxen 1924, Công ước Hamburg 1978, luật quốc gia của mỗi nước đều có thể trở thành nguồn luật điều chỉnh hợp đồng chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu bằng tàu chợ. Trong thực tế, luật quốc gia của nước nào được đem áp dụng là do vận đơn quy định. Khi áp dụng luật quốc gia thì phải áp dụng ngành luật có liên quan, tức luật chuyên ngành, chẳng hạn, Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015, Luật Chuyên chở hàng hóa bằng đường biển 1924 của Anh (Carriage of goods by sea Act, 1924), Luật Chuyên chở hàng hóa bằng đường biển 1936 của Hoa Kỳ... Điều đáng chú ý là nhiều quy phạm của Công ước Brucxen 1924 đã được đưa vào luật chuyên chở hàng hóa bằng đường biển của các nưâc. Tuy nhiên, bên cạnh những quy định chung, luật quốc gia của các nước đều có những quy định khác biệt. Do vậy khi áp dụng luật quốc gia của một nước, cần tìm hiểu và nghiên cứu kỹ các quy định của nó.
là hợp đồng vận chuyển chứng từ vận chuyển Điều 146 của Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015 hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển được giao kết với điều kiện người vận chuyển không phải dành cho người thuê vận chuyển nguyên tàu hoặc một phần tàu cụ thế mà chỉ căn cứ vào chủng loại, sô lượng, kích thước hoặc trọng lượng của hàng hóa để vận chuyển”.
Quyền, nghĩa vụ cụ thể của các bên cũng như đặc điểm của hợp đồng vận chuyển hàng hóa theo chứng từ được quy định từ Điều 146 đến Điều 169 trong Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015. Những quy định này có nhiều điểm giống với những quy định về hợp đồng chuyên chở hàng hóa bằng tàu chợ và cũng có nhiều điểm riêng.
- Tập quán hàng hải
Tập quán hàng hải thường được áp dụng với tư cách là nguồn luật để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng chuyên chở hàng hóa bằng đường biển, khi vận đơn đường biển, cũng như luật do vận đơn này chỉ ra, không điều chỉnh hay điều chỉnh không đầy đủ nội dung tranh chấp.
Tập quán hàng hải là thói quen hàng hải được lắp đi lắp lại nhiều lần, được nhiều nước công nhận và áp dụng liên tục đến mức nó trở thành một quy tắc mà các bên mặc nhiên tuân theo. Nhiều tập quán hàng hải được hình thành ở các cảng biển.
4. Luật điều chỉnh đối với hợp đồng chuyên chở chuyến (thuê tàu chuyến)
Cho đến nay chưa có một điều ước quốc tế nào được ký kết để điều chỉnh hợp đồng chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu bằng tàu chuyên. Vì vậy nguồn luật điều chỉnh hợp đồng này là luật quốc gia của các nước và tập quán hàng hải.
Ở các nước đểu có các quy phạm luật điều chỉnh hợp đồng thuê tàu chuyến, song quyền và nghĩa vụ của các bên lại được quy định khác nhau. Vì thế khi ký kết hợp đồng thuê tàu chuyên càng quy định cụ thể nghĩa vụ của các bên thì sau này càng đỡ phát sinh tranh chấp. Mặt khác các bên cũng cần phải quy định luật áp dụng cho hợp đồng thuê tàu chuyên để tránh phát sinh vân đề xung đột luật pháp. Luật pháp của các nước đều cho phép bên ký kết hợp đồng thuê tàu chuyến có quyền chọn luật để áp dụng cho hợp đồng đó. Trong trường hợp các bên ký kết không chọn luật lúc ký kết hợp đồng thì luật áp dụng cho hợp đồng: theo luật Ba Lan là luật nơi đóng trụ sở của người chuyên chở, theo luật Nga là luật nơi ký kết hợp đồng, theo luật Hoa Kỳ là luật nước, tòa án theo Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015, là luật của nước, nơi hàng hóa được trả theo hợp đồng (Điều 3 khoản 4 Bộ luật Hàng hải năm 2015).
5. Vai trò thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế đóng một vai trò rất quan trọng đối với các quốc gia.
Nó cho phép các quốc gia tiêu dùng các mặt hàng với số lượng nhiều hơn và chủng loại phong phú hơn mức ranh giới của đường giới hạn khả năng sản xuất trong điều kiện đóng cửa nền kinh tế của mỗi nước.
Bên cạnh đó, thương mại quốc tế có sự tác động qua lại, buộc mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế phù hợp với ngành nghề, vùng miền và thành phần kinh tế với đặc thù và lợi thế cạnh tranh của mỗi quốc gia.
Thương mại quốc tế ngày nay không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là mua bán giữa các quốc gia mà thể hiện sự phụ thuộc tất yếu của các quốc gia vào phân công lao động quốc tế thông qua chuỗi cung ứng quốc tế. Vì vậy, thương mại quốc tế được nhìn nhận như một nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trên cơ sở lựa chọn tối ưu phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế.
Để quản lý hoạt động thương mại quốc tế, các quốc gia trên thế giới đều xây dựng, hoạch định và ban hành chính sách thương mại quốc tế phù hợp với trình độ phát triển và đặc thù của mỗi nền kinh tế.
Chính sách thương mại quốc tế được hiểu là những qui định của chính phủ nhằm điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế, được thiết lập thông qua việc vận dụng các công cụ (thuế quan và phi thuế quan) tác động tới các hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu.
Công cụ thuế quan thường bao gồm thuế trực tiếp và thuế gián tiếp. Thuế quan trực tiếp là thuế đánh vào hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá xuất khẩu. Các loại thuế này bao gồm thuế theo số lượng, thuế giá trị và thuế hỗn hợp. Thuế gián tiếp tác động tới thương mại như thuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt. Các hàng rào phi thuế quan bao gồm trợ cấp xuất khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, các yêu càu về nội địa hoá, trợ cấp tín dụng xuất khẩu, qui định về mua sắm của chính phủ, hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT), biện pháp vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật, qui định về môi trường, biện pháp phòng vệ thương mại...