Thưa luật sư, theo tôi được biết cá nhân có thể mở tài khoản tại ngân hàng và công ty cũng vậy. Nhưng tôi không biết rõ quy định pháp luật về vấn đề này. Chủ tài khoản theo quy định pháp luật là gì? Mong nhận được giải đáp. Xin cảm ơn!

Cơ sở pháp lý

- Luật các tổ chức tín dụng năm 2010

- Nghị định 101/2012/NĐ-CP

- Nghị định 80/2016/NĐ-CP

- Thông tư 23/2014/TT-NHNN

- Thông tư 02/2019/TT/NHNN

1. Chủ tài khoản là gì?

Pháp luật ngân hàng không có quy định cụ thể về "chủ tài khoản là gì" nhưng thông qua quy định về chủ tài khoản thanh toán được ghi nhận tại Nghị định 101/2012/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 80/2016/NĐ-CP) thì chủ tài khoản được hiểu như sau:

Chủ tài khoản là Người đứng tên mở tài khoản và là chủ sở hữu hay người đại diện chủ sở hữu thực hiện quyền sở hữu đối với tài khoản ở tổ chức quản lý tài khoản.

Chủ tài khoản thanh toán (sau đây gọi là chủ tài khoản) là cá nhân đứng tên mở tài khoản đối với tài khoản của cá nhân hoặc là tổ chức mở tài khoản đối với tài khoản của tổ chức.(Khoản 1 Điều 1 Nghị định 80/2016/NĐ-CP)
Pháp luật quy định chủ tài khoản có quyền và nghĩa vụ trong việc mở, sử dụng, tạm khóa, phong tởa và đóng tài khoản.

2. Quy định pháp luật về chủ tài khoản của tổ chức

Đối với tài khoản của cá nhân thì đương nhiên chủ tài khoản là cá nhân, không có gì thay đổi về đối tượng từ trước đến nay. Tuy nhiên đối với tài khoản của pháp nhân nói riêng và tổ chức nói chung thì các quy định khá phức tạp và chưa rõ ràng.

Từ năm 1994, pháp luật quy định: “đốỉ với khách hàng là các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, đoàn thể, đơn vị vũ trang” thì “chủ tài khoản phải là Tổng giám đốc, Giám đốc, chủ doanh nghiệp, thủ trưởng đơn vị ký tên và đóng dấu”.

Từ năm 2001, pháp luật quy định: “chủ tài khoản là người đứng tên mở tài khoản”. “Đốì với tài khoản của tổ chức, chủ tài khoản là người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền của tổ chức mỗ tài khoản”. Tương tự là quy định “người đứng đầu Thương vụ đứng tên chủ tài khoản” trong việc mở tài khoản tiền gửi ngân hàng tại nước sở tại của Cơ quan Thương vụ Việt Nam ỗ nước ngoài.

Từ năm 2012, pháp luật quy định: “chủ tài khoản thanh toán (sau đây gọi là chủ tài khoản) là người đứng tên mở tài khoản”. “Đốì với tài khoản của tổ chức, chủ tài khoản là người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền của tổ chức”.

Từ năm 2016, pháp luật quy định: chủ tài khoản của tổ chức “là tổ chức mở tài khoản”; còn “người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền” chỉ là người thay mặt tổ chức thực hiện các giao dịch liên quan đến tài khoản1. Quy định này trái với một số luật như “chủ tịch hội đồng quản trị là chủ tài khoản” hay nhiệm vụ và quyền hạn của hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học “là chủ tài khoản của cơ sở giầo dục đại học”. Năm 2018 Chính phủ vẫn quy định “Bộ trưởng Bộ Tài chính bổ nhiệm và giao nhiệm vụ cho công chức của Bộ Tài chính làm chủ tài khoản” “giao dịch bằng ngoại tệ và tiền Việt Nam tại Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng thương mại trong nước”.

Tóm lại, từ năm 1994 đến nay, chủ tài khoản của các tổ chức được quy định gồm 4 loại khác nhau: (i) giám đốc hoặc là chủ doanh nghiệp hoặc là thủ trưởng đơn vị; (ii) người đại diện theo pháp luật; (iii) người đại diện theo ủy quyền; và (iv) chính tổ chức. Đồng thời, trong hai năm 2017 và 2018, các tổ chức không có tư cách pháp nhân không được mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng. Do đó, chỉ có chủ tài khoản của cá nhân hoặc pháp nhân.

Như vậy, pháp luật về tài khoản đã thay đổi theo hướng, chuyển chủ tài khoản từ một số chức danh được liệt kê sang người đứng đầu (sau này là người đại diện theo pháp luật) và từ cá nhân sang tổ chức (pháp nhân). Trong đó, việc quy định chủ tài khoản là người được ủy quyền là không chính xác, mà phải là người đại diện theo pháp luật. Việc quy định chủ tài khoản chính là tổ chức thì hợp lý hơn nhưng cũng chỉ đúng với pháp nhân, còn đối với tổ chức không có tư cách pháp nhân thì lại không chính xác. Chủ tài khoản của các tổ chức không có tư cách pháp nhân thì phải là một hoặc toàn bộ thành viên, vì các tổ chức này không có tư cách pháp lý trực tiếp giao dịch, mà phải giao dịch thông qua các thành viên của tổ chức.

Trường hợp tài khoản của tổ chức không có tư cách pháp nhân thì bản chất đó phải là tài khoản của cá nhân hoặc “tài khoản thanh toán chung của các chủ tài khoản”, đứng tên nhiều cá nhân dựa trên văn bản thỏa thuận (hoặc hợp đồng) quản lý và sử dụng tài khoản. Việc quy định chủ tài khoản là tổ chức không có tư cách pháp nhân dẫn đến không thể thực hiện được quy định “chủ tài khoản thanh toán được ủy quyền cho người khác sử dụng tài khoản thanh toán của mình".

Ví dụ việc mở tài khoản của chùa Ba Vàng, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tại Vietcombank, thì dù thừa nhận chủ tài khoản là “Chùa Ba Vàng” hay là cá nhân nào khác thì cũng đều không xác định được phải giao dịch với thành viên nào của tổ chức này (tức chùa). Vì chùa không có tư cách pháp nhân, nên sư trụ trì chùa không phải là người đại diện theo pháp luật của chùa và đương nhiên không là người đại diện về pháp lý của chùa.

Ngoài quy định, tên của tổ chức mở tài khoản thanh toán chính là chủ tài khoản, thì hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán phải có một trong các nội dung là “tên tài khoản thanh toán”. Tương tự là quy định, thông tin về tài khoản của khách hàng cũng gồm thông tin định danh khách hàng và các thông tin khác, trong đó có “tên tài khoản”.

Do pháp luật không giải thích tên tài khoản nói chung và tên tài khoản thanh toán nói riêng, nên không xác định được tên tài khoản thanh toán là gì. Do vậy, nhiều trường hợp tên tài khoản được hiểu chính là tên của tổ chức, cá nhân mở tài khoản.

Dựa vào các quy định liên quan thì có thể hiểu tên tài khoản là nội dung của tài khoản thông qua các quy định như sửa “tên tài khoản 20 - Cho vay các tổ chức tín dụng khác thành “cấp tín dụng cho các tổ chức tín dụng khác” hay quy định “nhà đầu tư nước ngoài thực hiện chuyển đổi tên tài khoản góp vốn, mua cổ phần bằng đồng Việt Nam nêu trên thành tài khoản vốn đầu tư gián tiếp"

3. Quyền và nghĩa vụ của chủ tài khoản

3.1. Quyền của chủ tài khoản thanh toán

Điều 5 Thông tư 23/2014/TT-NHNN quy định về quyền của chủ tài khoản. Theo đó, chủ tài khoản thanh toán có các quyền sau:

+ Sử dụng số tiền trên tài khoản thanh toán của mình để thực hiện các lệnh thanh toán hợp pháp, hợp lệ. Chủ tài khoản thanh toán được tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (nơi mở tài khoản) tạo điều kiện để sử dụng tài khoản thanh toán của mình thuận tiện và an toàn;

+ Lựa chọn sử dụng các phương tiện thanh toán, dịch vụ và tiện ích thanh toán do tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán cung ứng;

+ Ủy quyền cho người khác sử dụng tài khoản thanh toán theo quy định tại Điều 4 Thông tư này;

+ Yêu cầu tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán nơi mở tài khoản thực hiện các lệnh thanh toán hợp pháp, hợp lệ và được cung cấp thông tin về các giao dịch thanh toán, số dư trên tài khoản thanh toán của mình theo thỏa thuận với tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán;

+ Được yêu cầu tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán nơi mở tài khoản tạm khóa, đóng tài khoản thanh toán khi cần thiết; được gửi thông báo cho tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán về việc phát sinh tranh chấp về tài khoản thanh toán chung giữa các chủ tài khoản thanh toán chung;

+ Các quyền khác theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận trước bằng văn bản giữa chủ tài khoản với tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán không trái với quy định của pháp luật hiện hành.

3.2. Nghĩa vụ của chủ tài khoản thanh toán

Nghĩa vụ của chủ tài khoản thanh toán bao gồm:

+ Đảm bảo có đủ tiền trên tài khoản thanh toán để thực hiện các lệnh thanh toán đã lập. Trường hợp có thỏa thuận thấu chi với tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán nơi mở tài khoản thì phải thực hiện các nghĩa vụ liên quan khi chi trả vượt quá số dư Có trên tài khoản;

+ Chấp hành các quy định về mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại Thông tư này;

+ Kịp thời thông báo cho tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán nơi mở tài khoản khi phát hiện thấy có sai sót, nhầm lẫn trên tài khoản của mình hoặc nghi ngờ tài khoản của mình bị lợi dụng;

+ Hoàn trả hoặc phối hợp với tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán hoàn trả các khoản tiền do sai sót, nhầm lẫn đã ghi Có vào tài khoản thanh toán của mình;

+ Cung cấp đầy đủ, rõ ràng, chính xác các thông tin liên quan về mở và sử dụng tài khoản thanh toán. Thông báo kịp thời và gửi các giấy tờ liên quan cho tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán nơi mở tài khoản khi có sự thay đổi về thông tin trong hồ sơ mở tài khoản thanh toán. Việc thay đổi thông tin về tài khoản thanh toán mở tại Ngân hàng Nhà nước thực hiện theo Phụ lục số 03 đính kèm Thông tư này;

+ Duy trì số dư tối thiểu trên tài khoản thanh toán theo quy định của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán;

+ Chịu trách nhiệm về những thiệt hại do sai sót hoặc bị lợi dụng, lừa đảo khi sử dụng dịch vụ thanh toán qua tài khoản do lỗi của mình; Không được cho thuê, cho mượn tài khoản thanh toán của mình;

+ Không được sử dụng tài khoản thanh toán để thực hiện cho các giao dịch nhằm mục đích rửa tiền, tài trợ khủng bố, lừa đảo, gian lận hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác.

4. Có được ủy quyền cho người khác mở tài khoản ngân hàng không?

Thưa luật sư, em là sinh viên trường Văn hóa. Hiện nay để bố mẹ có thể gửi tiền sinh hoạt hằng tháng cho em nên em cần mở tài khoản ngân hàng. Em muốn để bố em mở tài khoản ngân hàng cho em ở trên quê có được không ạ? Và nếu được thì cần những giấy tờ gì ạ? Rất mong được giải đáp.

Chào bạn! Cảm ơn bạn gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Thắc mắc của bạn được chúng tôi nghiên cứu và giải đáp như sau:

Tại Khoản 7 Điều 1 Thông tư 02/2019/TT/NHNN, có quy định:

- Giấy đề nghị mở tài khoản thanh toán lập theo mẫu của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài nơi mở tài khoản và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 13 Thông tư này;

- Thẻ căn cước công dân hoặc giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu còn thời hạn, giấy khai sinh (đối với cá nhân là công dân Việt Nam chưa đủ 14 tuổi), thị thực nhập cảnh hoặc giấy tờ chứng minh được miễn thị thực nhập cảnh (đối với cá nhân là người nước ngoài) của chủ tài khoản;

- Trường hợp cá nhân mở tài khoản thanh toán thông qua người giám hộ, người đại diện theo pháp luật thì ngoài các giấy tờ nêu tại điểm a và b khoản 1 Điều này, hồ sơ mở tài khoản thanh toán phải có thêm thẻ căn cước công dân hoặc giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu còn thời hạn của người giám hộ, người đại diện theo pháp luật và các giấy tờ chứng minh tư cách đại diện hợp pháp của người đó đối với chủ tài khoản.

Như vậy, theo quy định trên thì được ủy quyền cho người đại diện theo pháp luật mở tài khoản thanh toán ngân hàng của mình. Và theo quy định thì chỉ áp dụng đối với trường hợp.

- Người chưa đủ 15 tuổi, người hạn chế năng lực hành vi dân sự, người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam mở tài khoản thanh toán thông qua người đại diện theo pháp luật;

Trường hợp bạn đang học tại trường đại học trên 18 tuổi và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự thì bạn sẽ không được mở tài khoản ngân hàng thông qua người đại diện theo pháp luật. Bạn có thể tự mình đến bất cứ Chi nhánh ngân hàng nào tự mình mở tài khoản rồi gửi số tài khoản cho bố ở quê để có thể chuyển tiền sinh hoạt hằng tháng cho ban. Hiện nay, ở các tỉnh chủ yếu là Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, vì vậy để thuận tiện cho bố bạn gửi tiền cũng như giảm chi phí thì bạn có thể chủ động mở tài khoản ngân hàng tại Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về vấn đề chủ tài khoản là gì? Chủ tài khoản của tổ chức và ủy quyền mở tài khoản ngân hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!