1.Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc

Theo số liệu về hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam năm 2019 do Tổng cục Hải quan vừa công bố, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước năm 2019 đạt 517,26 tỉ USD, tăng 7,6% so với năm 2018. Trong đó, trị giá hàng hóa xuất khẩu là 264,19 tỉ USD, tăng 8,4% và nhập khẩu là 253,07 tỉ USD, tăng 6,8% so với năm 2018.

Với kết quả này, qui mô xuất nhập khẩu hàng hóa trong năm 2019 của Việt Nam đạt mức tăng khá cao 36,69 tỉ USD, nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với mức tăng tới 52,44 tỉ USD của năm 2018.

Cán cân thương mại hàng hóa trong năm 2019 thặng dư lên tới 11,12 tỉ USD, mức cao nhất từ trước tới nay. Con số xuất siêu của Việt Nam trong năm nay đã tăng 62,9% so với năm trước.

Đáng chú ý, trong hơn 200 quốc gia, vùng lãnh thổ Việt Nam có quan hệ ngoại thương, Trung Quốc tiếp tục duy trì vị thế là thị trường lớn nhất và là năm thứ hai liên tiếp kim ngạch giữa hai nước đạt 100 tỉ USD trở lên.

Cụ thể, năm 2019, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc đạt 116,866 tỉ USD; trong đó, xuất khẩu của Việt Nam là 41,414 tỉ USD và nhập khẩu tới 75,452 tỉ USD. So với năm 2018, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc tăng thêm hơn 10 tỉ USD (năm 2018 là 106,706 tỉ USD).

Như vậy, riêng thị trường Trung Quốc chiếm đến 22,6% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước trong năm ngoái. 

Đặc biệt, thị phần kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm tới gần 30%. Tuy nhiên, kim ngạch tăng thêm chủ yếu từ hoạt động nhập khẩu từ Trung Quốc tăng mạnh, trong khi xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này tăng không đáng kể.

So với 1 năm trước, năm 2019, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc tăng thêm tới 10,014 tỉ USD, trong khi xuất khẩu chỉ tăng gần 150 triệu USD. Chính vì vậy, cán cân thương mại của nước ta với Trung Quốc bị thâm hụt rất lớn lên tới hơn 34 tỉ USD.

2.Khái quát về các hiệp định thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc

Đến thời điểm năm 2012, hai nước đã kí kết trên 50 hiệp định, đặt cơ sở pháp lí cho quan hệ hợp tác lâu dài giữa hai nước, trong đó có các hiệp định tạo hành lang pháp lí cơ bản cho quan hệ thương mại hai nước, như Hiệp định thương mại; Hiệp định mua bán hàng hoá tại vùng biên giới; Hiệp định hợp tác du lịch; Hiệp định về thành lập Uỷ ban hợp tác kinh tế; Hiệp định thanh toán; các hiệp định về giao thông, vận tải đường sắt, đường bộ, đường hàng không. Từ tháng 2/2002, Trung Quốc đã dành cho Việt Nam đối xử MFN về thuế suất đối với hàng xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam tăng cường xuất khẩu vào thị trường đầy tiềm năng này. Trong quan hệ hợp tác thương mại song phương, Việt Nam và Trung Quốc đã kí kết một số hiệp định điều chỉnh quan hệ thương mại biên giới, như: Hiệp định mậu dịch Việt Nam-Trung Quốc 1991; Hiệp định về mua bán hàng hoá ở vùng biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc 1998; Hiệp định về lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật Việt Nam-Trung Quốc 2007… Hai nước đã nhất trí tiếp tục mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại thông qua việc kí kết ‘Quy hoạch phát triển 5 năm hợp tác kinh tế-thương mại giai đoạn 2012-2016’ vào ngày 15/10/2011. Quy hoạch này sẽ tạo xung lực mới cho hợp tác kinh tế, thương mại giữa hai nước. Mục tiêu chủ yếu của quy hoạch là tiếp tục mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác kinh tế-thương mại Việt-Trung, đồng thời làm phong phú thêm nội dung hợp tác, tạo ra phương thức hợp tác mới; nghiên cứu những biện pháp nhằm giảm mức độ mất cân bằng trong cán cân thương mại giữa hai nước. Theo thoả thuận được kí kết, hai bên xác định 7 lĩnh vực hợp tác trọng điểm, bao gồm: (i) Nông nghiệp và nghề cá; (ii) Giao thông-vận tải; (iii) Năng lượng; (iv) Khoáng sản; (v) Công nghiệp chế tạo và công nghiệp phụ trợ; (vi) Dịch vụ; và (vii) Hợp tác ‘Hai hành lang, một vành đai kinh tế’.

3. Pháp luật trong nước của VN và TQ liên quan đến quan hệ TM song phương giữa hai nước

Thứ nhất, cần lưu ý pháp luật điều chỉnh chung quan hệ thương mại giữa hai nước, như: Luật ngoại thương của Trung Quốc, Nghị định số 12/2006/NĐCP ngày 23/1/2006 của Chính phủ Việt Nam quy định chi tiết thi hành Luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lí, mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài. Thứ hai, về pháp luật điều chỉnh thương mại biên giới giữa hai nước. Trên cơ sở Hiệp định về mua bán hàng hoá ở vùng biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc 1998, mỗi nước đều ban hành các quy định pháp luật điều chỉnh thương mại biên giới Việt Nam-Trung Quốc với các mục tiêu cơ bản như sau: - Thúc đẩy hợp tác thương mại ở vùng biên giới giữa hai nước trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi; - Khuyến khích, thúc đẩy hoạt động mua bán hàng hoá ở vùng biên giới phát triển lành mạnh, liên tục, ổn định và có biện pháp tăng cường phối hợp chống buôn lậu, gian lận thương mại; - Tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động xúc tiến thương mại, thúc đẩy mua bán hàng hoá ở vùng biên giới giữa hai nước; - Hoạt động mua bán hàng hoá ở vùng biên giới phải được tiến hành trên cơ sở phù hợp với các cam kết của hai nước và pháp luật của mỗi nước. Thứ ba, hệ thống thương mại biên giới của Trung Quốc chịu sự quản lí kết hợp của cả trung ương và địa phương. Mặc dù chính quyền địa phương có vai trò quan trọng trong việc quản lí thương mại biên giới nhưng cũng phải tuân thủ sự quản lí thống nhất của trung ương, vì thương mại biên giới cũng là bộ phận của ngoại thương Trung Quốc. Thương mại biên giới đã trở thành sức mạnh kinh tế chủ đạo và đóng vai trò cơ bản trong việc thực hiện mục tiêu của nhà nước Trung Quốc - là ‘tăng cường sức sống cho vùng biên giới, xây dựng xã hội phong lưu, mang lại lợi ích cho nhân dân và ổn định đất nước’. Cơ sở pháp lí chủ yếu của chính sách thương mại biên giới của Trung Quốc là Luật về khu tự trị dân tộc thiểu số và Luật ngoại thương. Điều 42 của Luật ngoại thương Trung Quốc quy định: Nhà nước áp dụng các biện pháp linh hoạt và tạo thuận lợi cho thương mại giữa các thị xã ở các vùng biên giới và các thị xã của các nước láng giềng, cũng như thương mại của cư dân biên giới. Quan hệ thương mại biên giới Việt Nam-Trung Quốc được đặc trưng bởi các thoả thuận thương mại quy mô nhỏ và linh hoạt. Thứ tư, theo Quyết định số 1151/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ngày 30/08/2007 về việc phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng biên giới Việt-Trung đến năm 2020, Việt Nam đã ban hành hàng loạt các chính sách và văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ thương mại diễn ra ở khu vực biên giới Việt Nam-Trung Quốc. Hành lang pháp luật thông thoáng mà Việt Nam xây dựng đã tạo thuận lợi và thúc đẩy các hoạt động thương mại biên giới Việt Nam-Trung Quốc phát triển. Các vấn đề pháp luật về thương mại biên giới Việt Nam-Trung Quốc được quy định trong rất nhiều văn bản pháp luật khác nhau của Việt Nam, trong đó chủ yếu phải kể đến một số văn bản như: - Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/1/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lí mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài; - Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg ngày 07/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lí hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới; - Quyết định số 44/QĐ-BTC ngày 29/8/2006 của Bộ tài chính về việc ban hành tờ khai hải quan dùng cho phương tiện vận tải xuất nhập cảnh qua cửa khẩu biên giới đường bộ; - Công văn số 1244/TCHQ-GSQL của Tổng cục hải quan ngày 27/2/2007 về thủ tục hải quan đối với hàng hoá qua các cửa khẩu biên giới; - Công văn số 4848/TCHQ-GSQL của Tổng cục hải quan ngày 23/8/2007 về thủ tục hải quan đối với hàng hoá qua cửa khẩu biên giới đường bộ; - Quyết định số 689/2004/QĐ-NHNN ngày 07/06/2004 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành quy chế thanh toán trong mua bán, trao đổi hàng hoá và dịch vụ tại khu vực biên giới và khu kinh tế cửa khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc… Quan hệ thương mại của Việt Nam với các nước nói chung cũng như các quan hệ thương mại biên giới nói riêng không thể không chịu sự tác động mạnh mẽ của quá trình hội nhập sâu rộng và mạnh mẽ của Việt Nam, sau khi Việt Nam gia nhập WTO và cả hai nước đã cùng tham gia vào Hiệp định ACFTA. Trước đây, hoạt động xuất nhập khẩu giữa hai nước chủ yếu dựa vào quan hệ song phương. Hiện nay, các quan hệ đó còn phải được tiến hành trên cơ sở các cam kết chặt chẽ trong khuôn khổ WTO và các liên kết khu vực. Do vậy, Việt Nam cũng như Trung Quốc phải điều chỉnh chính sách và pháp luật về thương mại của mình nhằm thực hiện các nguyên tắc cơ bản của pháp luật thương mại quốc tế (như các nguyên tắc MFN, NT, mở cửa thị trường, thương mại công bằng và minh bạch hoá) đối với tất cả các hoạt động thương mại, không phân biệt là hoạt động đó diễn ra ở đâu, biên giới hay trong nội địa, không phân biệt đối tác là ai, bạn hàng Trung Quốc hay bạn hàng đến từ các nước thành viên WTO khác. Tiềm năng phát triển của mối quan hệ Việt Nam-Trung Quốc là rất lớn. Với sự cố gắng chung của cả hai nước, mối quan hệ đó sẽ không ngừng được củng cố và phát triển tốt đẹp hơn với phương châm ‘láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai’, nhằm hướng tới việc đưa hai nước trở thành ‘láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt’. Trong xu hướng phát triển chung đó, hoạt động thương mại Việt Nam-Trung Quốc giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy giao lưu và hợp tác, không chỉ trong lĩnh vực thương mại mà còn trong các lĩnh vực văn hoá, xã hội, chính trị giữa hai nước.

4.Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc: Hữu nghị, hợp tác là dòng chảy chính

Năm 2020 có ý nghĩa quan trọng trong quan hệ hữu nghị truyền thống Việt Nam - Trung Quốc. Mùa xuân Canh Tý năm nay, cùng với việc chào đón năm mới 2020, nhân dân hai nước Việt Nam - Trung Quốc vui mừng và phấn khởi kỷ niệm 70 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, cùng nhau ôn lại chặng đường 70 mùa xuân của mối quan hệ láng giềng hữu nghị do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Ðông cùng các vị tiền bối cách mạng hai nước dày công xây dựng và vun đắp.

Cách đây vừa tròn 70 năm, ngày 18-1-1950 đã đi vào lịch sử quan hệ Việt Nam - Trung Quốc như một mốc son quan trọng. Sau khi được thành lập không lâu, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là quốc gia đầu tiên trên thế giới thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Trong chặng đường 70 năm phát triển, hai Ðảng, hai nước và nhân dân hai nước đã kề vai sát cánh, dành cho nhau sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn và quý báu, góp phần vào thành công của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước. Ðảng, Nhà nước Việt Nam đánh giá cao và không bao giờ quên điều đó.

70 năm qua, quan hệ Việt - Trung tuy có lúc thăng trầm, nhưng hữu nghị, hợp tác vẫn là dòng chảy chính, tình hữu nghị do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Ðông cùng các thế hệ lãnh đạo hai nước dày công vun đắp đã trở thành tài sản chung quý báu của hai dân tộc, góp phần duy trì xu thế phát triển ổn định quan hệ hữu nghị truyền thống Việt - Trung, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước.

Ðặc biệt, kể từ khi bình thường hóa năm 1991 đến nay, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc đã phát triển sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, an ninh, quốc phòng. Giao lưu và tiếp xúc cấp cao được duy trì thường xuyên bằng nhiều hình thức linh hoạt. Qua các chuyến thăm và tiếp xúc, lãnh đạo cấp cao hai Ðảng, hai nước đã đạt nhiều nhận thức chung quan trọng, góp phần củng cố và tăng cường tin cậy chính trị, thúc đẩy hợp tác toàn diện trên các lĩnh vực, là định hướng chiến lược nền tảng, lâu dài cho sự phát triển lành mạnh, ổn định của quan hệ Việt - Trung. Hai bên đã xác định phát triển quan hệ hai nước theo phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” (năm 1999) và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” (năm 2005). Năm 2008, hai bên nhất trí thiết lập khuôn khổ quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc, khung hợp tác cao nhất, nội hàm sâu rộng nhất trong quan hệ của Việt Nam với các nước trên thế giới. Trung Quốc cũng là quốc gia đầu tiên cùng Việt Nam xây dựng khuôn khổ hợp tác này.

Với sự nỗ lực chung của hai bên, quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt - Trung những năm qua duy trì đà phát triển ổn định và đạt được nhiều tiến triển mới. Tính đến nay, Việt Nam và Trung Quốc đã thiết lập được gần 60 cơ chế giao lưu, hợp tác từ trung ương tới địa phương, liên quan gần như tất cả các lĩnh vực, phát huy vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác hữu nghị giữa các bộ, ngành, địa phương hai nước. Hợp tác giữa hai Ðảng được đẩy mạnh, góp phần quan trọng vào việc xây dựng quan hệ tin cậy giữa hai nước. Hai bên duy trì trao đổi đoàn và thiết lập cơ chế giao lưu, hợp tác thường xuyên giữa các Ban Ðảng, nhất là trong lĩnh vực đào tạo cán bộ, xây dựng Ðảng…; tổ chức thành công Cơ chế gặp gỡ cấp cao hai Ðảng và Hội thảo lý luận để trao đổi về kinh nghiệm xây dựng Ðảng, quản lý nhà nước, đổi mới, cải cách mở cửa và hội nhập quốc tế; ký kết và triển khai hiệu quả Kế hoạch hợp tác giữa hai Ðảng, Thỏa thuận hợp tác đào tạo cán bộ cấp cao giữa hai Ðảng.

Giao lưu, hợp tác giữa Quốc hội Việt Nam với Nhân Ðại Trung Quốc, giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Chính hiệp Trung Quốc và giữa các bộ, ngành như ngoại giao, quốc phòng, công an không ngừng được tăng cường. Ðến nay, hai bên đã phối hợp tổ chức thành công 11 kỳ Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương cũng như triển khai tốt hoạt động Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt - Trung, Ðối thoại an ninh chiến lược, Ðối thoại chiến lược quốc phòng; duy trì cử tàu hải quân thăm lẫn nhau, tuần tra chung trên bộ và Vịnh Bắc Bộ, kiểm tra liên hợp nghề cá giữa Cảnh sát biển Việt Nam và Tổng đội Ngư chính Trung Quốc, giao lưu sĩ quan trẻ…

Hợp tác giữa các địa phương Việt Nam với các tỉnh, thành Trung Quốc, nhất là Quảng Tây, Vân Nam, Quảng Ðông… diễn ra sôi động, đạt nhiều thành quả thiết thực. Tính đến nay, đã có gần 50 tỉnh/thành phố của Việt Nam thiết lập quan hệ hợp tác hữu nghị với các tỉnh/thành phố/khu tự trị của Trung Quốc. Các cơ chế, chương trình giao lưu hợp tác giữa địa phương hai nước được tổ chức thường xuyên như: Gặp gỡ đầu xuân giữa Bí thư bốn tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang của Việt Nam với Bí thư Khu ủy khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc và Ủy ban công tác liên hợp giữa bốn tỉnh này với Quảng Tây; Hội nghị kiểm điểm tình hình hợp tác giữa các bộ/ngành, địa phương Việt Nam với tỉnh Quảng Ðông, Trung Quốc; Nhóm công tác liên hợp giữa các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Ðiện Biên và tỉnh Vân Nam, Trung Quốc; Hợp tác Hành lang kinh tế giữa các tỉnh/thành phố Lào Cai, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh với tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Qua các phiên họp, hai bên đã đi sâu trao đổi về các biện pháp nhằm tăng cường sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, thúc đẩy hợp tác thực chất trên các lĩnh vực, giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong quá trình hợp tác, cùng xây dựng đường biên giới hòa bình, ổn định, hữu nghị, đóng góp cho quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc phát triển ổn định, lành mạnh. Giao lưu, trao đổi giữa các đoàn thể quần chúng ngày càng mở rộng, góp phần tăng cường tin cậy, thúc đẩy hợp tác cùng có lợi, tạo cơ sở vững chắc cho quan hệ hai nước. Hai bên đã phối hợp tổ chức nhiều hoạt động phong phú như Diễn đàn nhân dân, Liên hoan hữu nghị nhân dân, Liên hoan nhân dân biên giới, Gặp gỡ hữu nghị thanh niên, Liên hoan thanh niên...

Quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học - công nghệ, văn hóa, giáo dục, du lịch… phát triển sâu rộng, đi vào thực chất. Tháng 11-2017, hai nước đã ký Bản ghi nhớ hợp tác về kết nối giữa khuôn khổ “Hai hành lang, một vành đai” với sáng kiến “Vành đai và Con đường”. Kể từ năm 2004, Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Ðến nay, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất và thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam, trong khi Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN, đối tác thương mại lớn thứ tám, thị trường xuất khẩu lớn thứ năm và là thị trường nhập khẩu lớn thứ chín của Trung Quốc trên thế giới. Năm 2018, kim ngạch thương mại song phương Việt Nam - Trung Quốc đạt 106,7 tỷ USD, tăng hơn 3.300 lần so năm 1991. Trong 11 tháng đầu năm 2019, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Trung Quốc đạt 105,75 tỷ USD, tăng 8,71% so cùng kỳ 2018. Tính đến hết tháng 11-2019, Trung Quốc có 2.739 dự án đầu tư trực tiếp vào Việt Nam, tổng số vốn 16,1 tỷ USD, đứng thứ 7 trong số 132 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam. Các khoản tín dụng ưu đãi dài hạn và viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Trung Quốc dành cho Việt Nam cũng góp phần quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của nhiều địa phương Việt Nam. Hằng năm có khoảng năm triệu lượt du khách Trung Quốc tới Việt Nam. Hiện nay có khoảng 11 nghìn học sinh Việt Nam đang học tập tại các trường đại học ở Trung Quốc và khoảng 2.000 học sinh Trung Quốc đang học tập tại Việt Nam.

5.Kết Luận 

Trong quan hệ thương mại song phương Việt Nam-Trung Quốc, đến thời điểm năm 2012, hai nước đã kí kết trên 50 hiệp định, đặt cơ sở pháp lí cho quan hệ hợp tác lâu dài giữa hai nước, trong đó có các hiệp định tạo hành lang pháp lí cơ bản cho quan hệ thương mại hai nước, như Hiệp định thương mại; Hiệp định mua bán hàng hoá tại vùng biên giới; Hiệp định hợp tác du lịch; Hiệp định về thành lập Uỷ ban hợp tác kinh tế; Hiệp định thanh toán; các hiệp định về giao thông, vận tải đường sắt, đường bộ, đường hàng không. Không giống quan hệ thương mại song phương với EU hay Hoa Kỳ, bên cạnh thương mại chính ngạch, giữa Việt Nam và Trung Quốc còn có một bộ phận rất quan trọng nữa của thương mại quốc tế - đó là thương mại biên giới. Hai nước đã kí kết một số hiệp định điều chỉnh quan hệ thương mại biên giới, như: Hiệp định mậu dịch Việt Nam-Trung Quốc 1991; Hiệp định về mua bán hàng hoá ở vùng biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc 1998; Hiệp định về lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật Việt Nam-Trung Quốc 2007… Hai nước đã nhất trí tiếp tục mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác kinh tế-thương mại thông qua việc kí kết ‘Quy hoạch phát triển 5 năm hợp tác kinh tế-thương mại giai đoạn 2012-2016’ vào ngày 15/10/2011. Quy hoạch này sẽ tạo xung lực mới cho hợp tác kinh tế-thương mại giữa hai nước, với mục tiêu chủ yếu là tiếp tục mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác kinh tế-thương mại Việt Nam-Trung Quốc, đồng thời làm phong phú thêm nội dung hợp tác, tạo ra phương thức hợp tác mới; nghiên cứu những biện pháp nhằm giảm mức độ mất cân bằng trong cán cân thương mại giữa hai nước. Năm 2010, thương mại hai chiều chiếm khoảng 14,07% tổng kim ngạch ngoại thương của Việt Nam, nhưng chỉ chiếm 0,78% tổng kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc. Tiếp tục chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, trong những năm tới, về quan hệ thương mại song phương, Việt Nam sẽ ưu tiên phát triển quan hệ hợp tác và hữu nghị truyền thống với các nước láng giềng có chung biên giới (Trung Quốc, Lào, và Cam-pu-chia), đồng thời nỗ lực làm sâu sắc hơn nữa quan hệ với các đối tác thương mại chủ chốt, trên cơ sở đảm bảo lợi ích của cả Việt Nam và các đối tác trong quan hệ thương mại song phương.

Luật Minh Khuê(sưu tầm và biên tập)