1. Khái niệm

Độc quyền hành chính là tham nhũng nhóm, và được bảo vệ bởi pháp luật quyền hành chính, không những gây tổn hại đến lợi ích công cộng và các doanh nghiệp mà còn gây tác hại đến lợi ích lâu dài của quốc gia. Như vậy, độc quyền hành chính là đối cực của tự do cạnh tranh, là cản trở lớn đối với tự do kinh doanh.

Độc quyền hành chính xuất hiện khi nhà nước và các cơ quan nhà nước lạm dụng quyền lực của mình thực hiện những hành vi nhằm phá huỷ và ngăn cản cạnh tranh một cách bình thường, và nó là kết quả của quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường.

2. Đặc điểm độc quyền hành chính

2.1. Chủ thể

Đối tượng có trong tay quyền lực nhà nước (Nhà nước, các cơ quan quản lý nhà nước, các cán bộ ,công chức nhà nước hoặc các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội được nhà nước trao quyền quản lý)

Nhà nước: đại diện cho quyền lực chính trị, ngoài ra là một nhà đầu tư khi tham gia vào các hoạt động kinh tế, là nhà tiêu dùng khi sở hữu nhiều tài sản và công cụ sản xuất quan trọng. Qua các thời kì nhà nước đều đưa ra những chính sách để tạo ra khả năng độc quyền hành chính.

Cơ quan quản lí nhà nước: bộ phận cấu thành nên bộ máy nhà nước, được trao cho quyền lực nhà nước để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế(bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, các chính quyền địa phương và các sở, phòng, ban trực thuộc), tác động vào hoạt động kinh doanh và tạo ra độc quyền hành chính thông qua việc ây dựng, giải thích các văn bản pháp quy, đưa ra các quy chế, các quyết định hành chính.

Các cán bộ, công chức nhà nước: trong quá trình thi hành công vụ bằng các quyết định hành chính, hành vi hành chính có khả năng gây ảnh hưởng trực tiếp, tạo ra thuận lợi hoặc khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Các tổ chức chính trị - xã hội: với quyền lực được giao, khả năng gây ra những tác động tới môi trường cạnh tranh là hoàn toàn có thể.

Người được hưởng những lợi ích đặc biệt do độc quyền hành chính mang lại chính là các chủ thể kinh doanh (doanh nghiệp, các hiệp hội hành nghề). Những đối tượng này có thể thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau nhưng do ảnh hưởng của cơ chế chủ quản, phổ biến nhất vẫn là độc quyền hành chính của khối các doanh nghiệp công.

2.2. Phương thức thể hiện

Dựa vào quyền lực hành chính. Dùng quyền lực hành chính thay bằng quyền lực và sức mạnh của thị trường.

Bằng quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và đặc biệt là quyền lập quy, ban hành các quyết định hành chính, các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương có thể tạo những đặc lợi cho một số các doanh nghiệp nào đó đồng thời gây bất lợi cho các doanh nghiệp còn lại.

Khi các Bộ, ngành và địa phương dùng quyền lâp quy và tự định đoạt hành chính để dành lấy những lợi thế cho doanh nghiệp do mình quản lý thù những đặc quyền này được che dấu khéo léo, ẩn ý dưới bóng các quyết định, thông tư, nghị định; đặc lợi đã được pháp luật công khai bảo vệ.

2.3. Mục đích

Hạn chế cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận.

Tạo ra những lợi ích riêng biệt cho một cơ quan hay một vùng miền, một đơn vị hành chính lãnh thổ thông qua một số hành động( bán phá giá, áp đặt giá bán, giá mua hàng hóa dịch vụ,...)

2.4. Một trong những nguyên nhân, điều kiện cho sự xuất hiện và tồn tại của tham nhũng

Các doanh nghiệp được hưởng các đặc lợi từ độc quyền hành chính, để có được sự trợ giúp bởi quyền lực công từ phía các cơ quan công quyền, họ phải làm thỏa mãn những lợi ích mà phía bên kia đề ra, từ đó mà phát sinh ra các hành vi hối lộ, mãi lộ, vi phạm các nguyên tắc về tài chính, kế toán. Các doanh nghiệp độc quyền luôn có xu hướng liên hệ và tranh thủ sự ủng hộ của các cơ quan quản lý nhà nước để bảo vệ vị thế độc quyền của mình, tìm kiếm các ưu đã icó tính phân biệt đối xử so với các chủ thể kinh doanh khác. Điều này làm xuất hiện nguy cơ tham nhũng, tha hóa bộ máy nhà nước.

3. Quy định của pháp luật về độc quyền hành chính

Nguồn gốc của độc quyền hành chính ở Việt Nam (cũng như Trung Hoa) đều bởi kinh tế thị trường đã được tái lập mà không đi liền với tư nhân hoá nguồn tư liệu sản xuất. Chừng nào chức năng hành chính và quản lý kinh doanh chưa được tách rời, các doanh nghiệp nhà nước vẫn có một chỗ dựa vững mạnh như đó là các cơ quan chủ quản: vừa là cơ quan hoạch định, thực thi chính sách, vừa là người quản lý tài sản và điều tiết kinh doanh. Độc quyền hành chính có nhiều dạng biểu hiện, song có thể tạm thời minh hoạ qua ba nhóm hành vi phổ biến dưới đây: Cản trở gia nhập thị trường để bảo vệ các doanh nghiệp thuộc quyền quản lý của mình, cơ quan hành chính tìm cách cản trở gia nhập thị trường của doanh nghiệp dân doanh (và doanh nghiệp nhà nước thuộc các cơ quan/địa phương khác), thường thông qua thủ tục xét và cấp giấy phép kinh doanh, chứng nhận điều kiện kinh doanh.

Phân chia thị trường Cơ quan hành chính có thể lợi dụng quyền lập quy hoặc quyết định hành chính, dùng hội hiệp dưới sự chủ trì của hành chính để phân chia thị trường, ấn định nguồn cung cấp và tiêu thụ hàng hoá/dịch vụ. Cản trở kinh doanh bình thường Cơ quan hành chính dùng quyền kiểm tra, thanh tra về giá, chất lượng, an toàn lao động, phòng hoả… để cản trở hoạt động bình thường của doanh nghiệp.Ví dụ thực tiễn minh họa cho ba nhóm hành vi cản trở cạnh tranh kể trên thườngxuyên xuất hiện trên các trang báo hàng ngày. Tổ công tác thi hành Luật doanh nghiệp và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thường xuyên công bố hàng trăm loại giấy phép và các biến tướng của chúng, vô tình hay hữu ý đã châm ngòi cho phản ứng âm thầm lan rộng của giới hành chính các cấp tìm cách cản trở tư duy cách tân của Luật doanh nghiệp năm 1991.

Sự xuất hiện và tồn tại của tham nhũng là do độc quyền hành chính gây nên.

Khi các Bộ, ngành và địa phương dùng quyền lập quy và tự định đoạt hành chính để dành lấy lợi thế cho doanh nghiệp mà mình quản lý thì những đặc quyền này được che dấu khéo léo và ẩn ý dưới bóng các quyết định, thông tư, nghị định; đắc lợi đã được công khai bảo vệ

Pháp luật thế giới cho phép doanh nghiệp dân doanh và nước ngoài trực tiếp tham gia vào nền công nghiệp trong việc thiết lập cạnh tranh công bằng. điều này không những tạo ra lợi ích cho mọi người mà còn dẫn đến sự điều chỉnh toàn diện tới sự phát triển lành mạnh, ổn định và bền vững của những nền công nghiệp đó.

Các nhà luật gia cho rằng tại Việt Nam, độc quyền hành chính là một hiện tượng cụ thể trong tiến trình chuyển đổi của nền kinh tế Việt Nam và độc quyền hành chính sẽ giảm xuống một cách tự nhiên theo tiến trình cải tổ hệ thống kinh tế và chính trị.

Luật cạnh tranh 2004 có quy định 4 điều cấm các cơ quan quản lý nhà nước không được phép thực hiện trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh doanh mà thực chất đó là 4 dạng về độc quyền hành chính đã và sẽ phát sinh ở Việt Nam:

Một, buộc doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân phải mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ với doanh nghiệp được cơ quan này chỉ định, trừ hàng hoá, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước hoặc trong trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật;

Hai, phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp;

Ba, ép buộc các hiệp hội ngành nghề hoặc các doanh nghiệp liên kết với nhau nhằm loại trừ, hạn chế, cản trở các doanh nghiệp khác cạnh tranh trên thị trường;

Bốn, các hành vi khác cản trở hoạt động kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp.

Còn Luật Cạnh tranh 2018 quy định rõ ràng và chi tiết hơn về khoản 1 Điều 6 của Luật Cạnh tranh năm : Nghiêm cấm cơ quan nhà nước thực hiện hành vi gây cản trở cạnh tranh trên thị trường như: ép buộc, yêu cầu, khuyến nghị doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hiện hoặc không thực hiện việc sản xuất, mua, bán hàng hóa, cung ứng, sử dụng dịch vụ cụ thể hoặc mua, bán hàng hóa, cung ứng, sử dụng dịch vụ với doanh nghiệp cụ thể, trừ hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước hoặc trong trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật; phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp; ép buộc, yêu cầu, khuyến nghị các hiệp hội ngành, nghề, tổ chức xã hội - nghề nghiệp khác hoặc các doanh nghiệp liên kết với nhau nhằm hạn chế cạnh tranh trên thị trường; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để can thiệp trái pháp luật vào hoạt động cạnh tranh.

Luật Cạnh tranh 2018 còn nghiêm cấm tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, vận động, kêu gọi, ép buộc hoặc tổ chức để doanh nghiệp thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh.

Để tiết chế, loại bỏ độc quyền hành chính trong kinh doanh, chúng ta cần quay lại nguồn gốc của nó. Nguồn gốc của độc quyền hành chính bắt nguồn từ chỗ kinh tế thị trường đã được tái lập mà không bắt đầu từ tư nhân hóa nguồn tư liệu sản xuất. Chừng nào chức năng hành chính chưa được tách rời thì chừng đó các doanh nghiệp nhà nước vẫn có một chỗ dựa vững mạnh – các cơ quan chủ quản. Độc quyền hành chính là biểu hiện cao cấp nhất của tham nhũng, muốn chống phải bắt đầu từ phân tách quản lý hành chính và quản lý kinh doanh. Kiểm soát độc quyền hành chính cần tới sự góp sức của nhiều chính sách toàn diện, đa dạng, bắt đầu từ phi tập trung hóa quyền tài sản, cải cách doanh nghiệp nhà nước, cải cách hành chính, cải cách chế độ lương của công chức cho đến chống tham nhũng.

Giám sát và đi tới loại bỏ độc quyền hành chính trong kinh doanh. Theo PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa, chúng ta chỉ có thể bắt đầu bằng những bước đi khiêm tốn, phù hợp với những điều kiện về kinh tế, xã hội, pháp lý ở nước ta hiện nay như: củng cố cơ chế giám sát văn bản, tăng cường vai trò của hệ thống các Toà Hành chính, phân tách chức năng quản lý hành chính nhà nước với chức năng quản lý kinh doanh, tản quyền tài sản…Cần thiết phải khảo cứu các hành vi lạm dụng đặc lợi phổ biến của doanh nghiệp nhà nước trong thực tiễn kinh doanh, từ đó lựa chọn công cụ giám sát phù hợp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp gia nhập và cạnh tranh bình đẳng trên thị trường.

Vậy, Chính phủ nên cụ thể hoá những quy định này bằng cách đưa ra danh mục các lĩnh vực độc quyền nhà nước để bảo đảm tính rõ ràng của pháp luật và tránh được việc biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp. Đồng thời, Chính phủ cũng nên thông tin kế hoạch cụ thể đối với việc xoá bỏ độc quyền trong những ngành nghề nhất định. Thực tế cho thấy rằng, những lĩnh vực thuộc về độc quyền nhà nước không phải giống nhau cho mọi quốc gia và cũng không tồn tại ổn định cho mọi thời kỳ, nó phụ thuộc vào hoàn cảnh của mỗi nước.