1. Lao động di trú là gì?

Điều 2 Công ước ICRMW xác định: "Lao động di trú là một người đã đang và sẽ làm một công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân" cùng với giải thích tại Điều 5 thì có thể hiểu,  lao động di trú được xác định bao gồm cae những người lao động có giấy tờ hơp pháp và người lao động bất hợp pháp.

Hiện nay thì pháp luật Việt Nam ghi nhận các quy định về lao động di trú thuộc đối tượng có giấy tờ hợp pháp  hay còn gọi là "người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động".

2. Pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của lao động di trú

Ở Việt Nam, hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài lần đầu được luật hóa trong Bộ luật lao động năm 1994, năm 2002 đã được sửa đổi bổ sung. Cùng với đó là các Nghị định, Quyết định hướng dẫn thi hành. Đặc biệt năm 2006, Quốc hội Việt Nam đã thông quan văn bản đầu tiên điều chỉnh trực tiếp hoạt động xuất khẩu lao động cũng như các quy định bảo vệ quyền và lợi ích của lao động di trú, luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006 đã hình thành cơ sở pháp lý quan trọng giúp bảo vệ quyền của người lao động di trú từ trước, trong và sau khi người lao động đi làm việc ở nước ngoài với nội dung bảo vệ đa dạng, điều chỉnh được nhiều vấn đề liên quan đến lao động di trú phát sinh trên thực tế.

Đến Hiến pháp năm 2013, một lần nữa nhấn mạnh và thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc thừa nhận, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người nói chung và quyền của người lao động di trú nói riêng. Cụ thể tại Điều 23 của HIến pháp năm 2013 dã quy định: "Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định", quy định này đã thể hiện được trách nhiệm của Đảng và Nhà nước trong bảo đảm, hỗ trợ cũng như tạo điều kiện cho người lao động ra làm việc ở nước ngoài. Trên cơ sở quy định về quyền con người, quyền công dân của văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam, HIến pháp 2-13 đã mở ra rất nhiều cơ hội, những thau đổi tích cực để xây dựng một hệ thống pháp luật trong nước tiệm cận với hệ thống pháp luật quố tế về bảo vệ quyền của người lao động di trú. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bên cạnh HIến pháp nếu Bộ luật lao động là văn bản quy định chung về vấn đề lao động thì Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng có những quy dịnh cụ thể, chi tiết hơn đối với người lao động di trú.

Trên cơ sở đòi hỏi từ thực tiễn, bằng việc nghiên cứu, tiếp thu những ưu điểm của hệ thống pháp luật quốc tế về lao động di trú, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động năm 2020. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2022 đã có những thay đổi tích cực, phù hợp hơn với tình hình thực tiễn.

2.1. Quyền của người lao động di trú theo pháp luật Việt Nam

Theo luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động 2020 thì quy định về quyền của người lao động di trú đã được xác định cụ thể, chi tiết hơn. Quyền của nhóm này được xác định ngay từ Điều 6 với 9 quyền và 9 nghĩa vụ. Đây là điểm ưu việt hơn so với luật cũ khi trước đây người lao động di trú chỉ được xác định 6 quyền cơ bản đó là:

- Được cung cấp thông tin về chính sách pháp luật của Việt Nam về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; chính sách pháp luật và phong tục tập quán của nước tiếp nhận lao động có liên quan đến người lao động; quyền, nghĩa vụ của các bên khi đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;

- Hưởng tiền lương, tiền công, chế độ khám bệnh, chữa bệnh, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm tai nạn lao động và quyền lợi, chế độ khác theo hợp đồng lao động; chuyển về nước tiền lương, tiền công, thu nhập, tài sản hợp pháp khác của cá nhân theo quy định của pháp luật VIệt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận lao động;

- ĐƯợc bảo hộ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng trong thời gian làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước tiếp nhận lao động, pháp luật và thông lệ quốc tế;

- Hưởng chính sách hỗ trợ về lao động, việc làm và quyền lợi từ Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước theo quy định của pháp luật;

- Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Đây là những quyền cơ bản và đặc biệt quan trọng đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài, trang bị cho họ những kiến thức cần thiết để tự bảo vệ quyền lợi của mình, đồng thời cũng giúp họ dễ dàng hòa nhập với cuộc sống tại quốc gia khác, tạo cho họ cảm giác được đối xử công bằng như với chính công dân của quốc gia tiếp nhận, thúc đẩy quyền con người cũng như quyền của chính những người lao động di trú. ĐỒng thời, theo luật mới người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài còn được bổ sung một số quyền như sau:

- Được tư vấn, hỗ trợ để thực hiện quyền, nghĩa vụ và hưởng lợi ích trong hợp đồng lao động,  hợp đồng đào tạo nghề;

- Đơn phương chấm dứt hợp đồng khi bị người sử dụng lao động ngược đãi, cưỡng bức lao động hoặc có nguy cơ rõ ràng đe dọa trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe hoặc bị quấy rồi tình dục trong thời gian làm việc ở nước ngoài.

- Không phải đóng bảo hiểm xã hội hoặc thuế thu nhập cá nhân hai lần ở VIệt Nam và ở nước tiếp nhận lao động nếu Việt Nam và nước đó đã ký hiệp định về bảo hiểm xã hội hoặc hiệp định tránh đánh thuế hai lần;

- ĐƯợc tư vấn và hỗ trợ tạo việc làm , khởi nghiệp sau khi về nước và tiếp cận dịch vụ tư vấn tâm lý xã hội tự nguyện.

2.2. Chính sách Nhà nước về đảm bảo quyền của người lao động di trú

Các chính sách của Nhà nước cũng được quy định công khai, minh bạch ngay tại Điều 4 của Luật này:

"1. Khuyến khích nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động Việt Nam đi làm việc ử nước ngoài theo hợp đồng, phát huy và sử dụng hiệu quả nguồn lao động sau khi đi làm việc ở nước ngoài trở về.

Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trong một số ngành, nghề công việc cụ thể có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao hoặc Việt Nam có ưu thế được hưởng một số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm thu hút, thúc đẩy và hỗ trợ phát triển ngành nghề, công việc đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và sử dụng người lao động sau khi về nước phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ.

2. Bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân Việt Nam trong lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

....

5. Hỗ trợ hòa nhập xã hội và tham gia thị trường lao động sau khi về nước".

So với quy định tại Luật năm 2006 thì luật mới đã bổ sung những chính sách của Nhà nước, tăng cường đảm bảo quyền của lao động di trú, trong đó đặc biệt nhấn mạnh tới bình đẳng giới , không phân biệt đối xử đối với lao động di trú. việc quy định như thế này là kết quả của hoạt động nghiên cứu, học hỏi những thành tựu của pháp luật quốc tế trong bảo vệ quyền của người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

2.3. Trách nhiệm của doanh nghiệp thực hiện hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài

Đồng thời để nâng cao hiệu quả bảo vệ cũng như xác định trách nhiệm bảo vệ quyền của người lao động di trú, Điều 26 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã quy định cụ thể, chi tiết hơn rất nhiều về nghĩa vụ của các doanh nghiệp thực hiện hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, theo đó các nghĩ vụ được xây dựng trên cơ sở bảo đảm tối đa quyền của người lao động di trú. Luật cũng đã có những quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng đối với người lao động, nổi bật trong đó là hình thức ký quỹ của người lao động được quy định tại Điều 25 trong đố nhấn mạnh "Trường hợp người lao động vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, tiền ký quỹ của người lao động được doanh nghiệp dịch vụ sử dụng để bù đắp thiệt hại phát sinh do lỗi của người lao động gây ra; nếu tiền ký quỹ còn thừa thì phải trả lại cho người lao động, nếu không đủ thì người lao động phải nộp bổ sung".

Cùng với đó, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2020 cũng đã xác định rõ nguyên tắc giải quyết tranh chấp đối với lao động di trú, quy định tại Điều 72, những cơ sở pháp lý được áp dụng trong giải quyết tranh chấp là "quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật nước tiếp nhận lao động, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VIệt Nam là thành viên, thỏa thuận quốc tế mà Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ ký với bên nước ngoài".

Một điểm mới nổi bật của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020 so với luật cũ là các quy định về Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước. Theo đó đã xác định cụ thể nhiệm vụ của Quỹ hộ trợ tại Điều 66. Quy định mới này đã giải quyết vấn đề còn tồn đọng trước đây đó là xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ hoạt động của Quỹ là hỗ trợ người lao động di trú cũng như các doanh nghiệp thực hiện hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Quy định này đã thể hiện tính minh bạch trong quản lý, đảm bảo những quyền lợi mà người lao động di trú được hưởng từ trước, trong và sau khi đi làm việc ở nước ngoài.

Nhìn chung có thể thấy rằng, từ những ngày đầu hợp pháp hóa hoạt động xuất khẩu lao động cho đến nay, Đảng và Nhà nước đã có những quan tâm đặc biệt đối với quyền của người lao động di trú, một hệ thống các khuôn khổ pháp luật về các vấn đề cơ bản cũng như quyền của lao động di trú Việt Nam đã được xây dựng, áp dụng và liên tục sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình thực tiễn, cùng như sự phát triển của thị trường lao động quốc tế.

1900.6162

Luật Minh Khuê (Tổng hợp và phân tích)