1. Giới thiệu
Phương pháp mô hình tham gia cũng chính là một phương pháp theo cách tiếp cận dựa trên quyền nhằm phát huy dân chủ, phát huy tính chủ thể của người dân đối với sự phát triển của chính mình và cộng đồng. Việt Nam là một nước thành công trong việc huy động sức mạnh tổng hợp toàn dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập, theo nghĩa đó có thể nói rằng trong truyền thống, Việt Nam đã vận dụng thành công phương pháp mô hình tham gia của người dân thể hiện ở công tác dân vận đã từng được Hồ Chí Minh rất chú trọng.
2. Sự tham gia vào các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội
Sự tham gia rộng rãi của người dân trước hết được thể hiện ở mức độ tham gia vào các tổ chức chính trị như Đảng, Đoàn, Thiếu niên, Nhi đồng, các tổ chức xã hội như Hội Phụ nữ, Người Cao tuổi, Cựu Chiến binh, Cựu Giáo chức, Công đoàn... Có thể nói không có người dân nào không tham gia một tổ chức nào đó, ít nhất là tổ dân phố - một tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư Việt Nam.
Các phong trào xã hội như phong trào từ thiện gần đây đã thu hút được rất đông sự tham gia của mọi tầng lớp xã hội nhằm cứu giúp những người nghèo, những người có hoàn cảnh khó khăn, đồng bào bị thiên tai bão lụt...
Đáng chú ý, sự góp mặt của một số người nổi tiếng đã góp phần tạo nên những hiệu ứng tích cực trong hoạt động thiện nguyện. Bão chồng bão, mưa lớn gây lũ lụt, sạt lở đất... đã gây nên những tổn thất nghiêm trọng về người và tài sản. Mất mát, đau thương là không thể đong đếm nhưng trong hoàn cảnh gian khó, bên cạnh sự chăm lo, trợ giúp kịp thời của Ðảng, Nhà nước, các cấp chính quyền, sự đồng lòng, sẻ chia của người dân cả nước phần nào đã giúp đồng bào miền trung thêm ấm lòng, vững tâm vượt qua khó khăn, từng bước khôi phục cuộc sống. Thật cảm động khi chứng kiến những đoàn xe chở hàng cứu trợ nối dài, hối hả tiến về miền trung. Trên khắp cả nước, từ công sở, trường học, tổ dân phố, doanh nghiệp, tổ chức xã hội cho đến mạng xã hội... đều xuất hiện lời kêu gọi quyên góp, giúp đỡ đồng bào miền trung. Cùng với người dân cả nước, nhiều nghệ sĩ nổi tiếng cũng chung tay kêu gọi hỗ trợ, trực tiếp đi cứu trợ. Có nữ ca sĩ đã kêu gọi quyên góp được số tiền lên đến hàng trăm tỉ đồng. Nữ ca sĩ cũng đã đến tận những nơi là rốn lũ của Huế, Quảng Bình, Quảng Trị,… để chia quà, phát tiền mặt cho các cá nhân, hộ gia đình chịu nhiều thiệt hại từ thiên tai. Từ lúc đầu chỉ có một vài cá nhân tham gia, nhưng sau đó phong trào thiện nguyện nhanh chóng lan rộng trong giới nghệ sĩ. Bên cạnh việc quyên góp tiền, nhu yếu phẩm cần thiết, các nghệ sĩ còn hỗ trợ bằng cách tổ chức các buổi biểu diễn gây quỹ từ thiện hoặc về tận nơi xảy ra thiên tai để biểu diễn phục vụ miễn phí cho đồng bào.
3. " Nhà nước và nhân dân cùng làm"
Đặc biệt là chủ trương “xã hội hoá” của Nhà nước theo hướng “Nhà nước và nhân dân cùng làm” cũng đã thúc đẩy được tính tích cực của người dân tham gia vào quá trình phát triển chung của xã hội, điển hình là quá trình giáo dục, một khâu rất trọng yếu liên quan đến sự phát triển con người, đến quyền con người và đến nguồn nhân lực đảm bảo cho sự phát triển của đất nước.
Nhà nước thực hiện xã hội hóa nhằm hai mục tiêu lớn đó là phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động nguồn lực của toàn xã hội để chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa... của đất nước cũng như tạo điều kiện để xã hội đặc biệt là các đối tượng chính sách, người nghèo được hưởng các thành quả giáo dục, y tế, văn hóa ngày càng cao.
Ở Việt Nam, xã hội hóa giáo dục (XHHGD) được chính thức đưa ra và thực hiện từ Nghị quyết số 90-CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, trong đó nêu rõ: “Xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của Nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hóa và sự phát triển về thể chất và tinh thần của Nhân dân. Xã hội hóa là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế - xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa ở mỗi địa phương, đây là cộng đồng trách nhiệm của đảng bộ, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp đóng tại địa phương và của từng người dân”.
Bản chất xã hội của XHHGD là tổ chức thực hiện xây dựng một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Giảm bớt được gánh nặng và sự “khoán trắng” về đầu tư ngân sách cho giáo dục. Bên cạnh đó, XHHGD chính là “giáo dục cho tất cả mọi người; tất cả mọi người cho sự nghiệp giáo dục”, đó là đưa giáo dục gắn với xã hội, với cộng đồng; giáo dục phục vụ mục tiêu xã hội, phục vụ cộng đồng. Cơ sở tư duy của XHHGD là đặt giáo dục vào đúng vị trí của nó. Giáo dục là bộ phận không thể tách rời của hệ thống xã hội. Giáo dục cùng với khoa học công nghệ là động lực phát triển kinh tế – xã hội.
Nội dung hoạt động XHHGD được Đảng, Nhà nước đề cập đến hết sức phong phú, như từ việc huy động các lực lượng xã hội đầu từ các nguồn lực bao gồm vật lực, tài lực…; tham gia vào quá trình đa dạng hóa các loại hình trường, lớp, các loại hình học tập; tạo lập và đẩy mạnh phong trào học tập rộng khắp trong xã hội, mọi thành viên trong xã hội, không phân biệt tuổi tác, nghề nghiệp, chỗ đứng trong xã hội đều được học, học thường xuyên, học suốt đời; huy động các lực lượng xã hội tham gia xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và quản lý giáo dục có hiệu quả. Quá trình này thể hiện tính chất dân chủ và bình đẳng của nền giáo dục nước ta.
Sự gắn kết giữa ba môi trường trong giáo dục: nhà trường – gia đình – xã hội, làm cho mọi người, mọi tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và mọi cá nhân trong xã hội nhận thức và tổ chức thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình trong sự nghiệp phát triển giáo dục và quản lý giáo dục. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục sẽ là những biện pháp hữu hiệu để chống lại bốn tiêu cực trong ngành Giáo dục hiện nay, bao gồm: tiêu cực trong thi cử; bệnh thành tích trong giáo dục; học sinh ngồi “nhầm lớp” và vi phạm đạo đức nhà giáo.
4. Hạn chế của phương pháp mô hình tham gia của người dân
Nhìn vào thực tế này có thể nói rằng, phương pháp theo mô hình tham gia của người dân không phải là mới đối với Việt Nam song đánh giá sự tham gia này về mặt lượng và chất thì vẫn còn có nhiều điều đáng nói. Trước hết, căn cứ vào các số liệu đã có như WVS, crvicus thì có thể thấy rằng mức độ tham gia của người dân vào các tổ chức là khá rộng rãi, đạt 73,5%, một tỷ lệ khá cao về những người ít nhất tham gia vào 1 tổ chức (WVS - 2001). Việt Nam cũng được đánh giá là một nước có truyền thống hoạt động tình nguyện, theo thống kê của WVS, đa số các hoạt động của các tổ chức dân sự đều do người dân tình nguyện thực hiện và số người đảm nhận các công việc tình nguyện chiếm 71,2%.
Tuy nhiên, về chất lượng tham gia, có nhiều trường hợp thành viên của các tổ chức quần chúng thường được kết nạp một cách tự động không cần viết đơn tình nguyện (ví dụ, thành viên của tổ dân phố), đặc biệt là trong khu vực nhà nước (thành viên của ban nữ công, tổ tự vệ, tổ phòng cháy...) hoặc trong tham gia quyên góp làm từ thiện, bên cạnh những trường hợp tự nguyện điển hình như có cả những em bé nhịn quà sáng để tiết kiệm tiền đóng góp thì phổ biến trong khu vực nhà nước, đặc biệt trong hành chính công, việc đóng góp từ thiện được khấu trừ tự động 1, 2 ngày lương cho người nghèo và người bất hạnh, các khoản đóng góp từ thiện khác trong hệ thống nhà nước cũng theo phương thức khấu trừ mang tính trách nhiệm hơn là tình nguyện (ví dụ mua công trái kiến thiết thủ đô, công trái giáo dục). Có khá nhiều công việc tình nguyện là do được yêu cầu, ví dụ tham gia xây dựng đường xá và các tiện ích khác cho cộng đồng. Hơn nữa, về hoạt động tình nguyện cũng có nhiều loại khác nhau, một trong số đó có thể do áp lực xã hội và các loại khác là công việc nhân đạo thuần túy, trong khi đáng chú ý là người dân ít tham gia vào việc lập kế hoạch. Thậm chí Nghị định về dân chủ cơ sở đã có được vài năm nhưng ở một số nơi người ta vẫn không biết đến nó.
5. Phương pháp mô hình tham gia của người dân là khá phổ biến ở Việt Nam
Mặc dù có những hạn chế như vậy, vẫn phải nói rằng, phương pháp mô hình tham gia của người dân là khá phổ biến ở Việt Nam, nhất là về mặt số lượng thành viên thì cao hơn đáng kể so với các nước trong khu vực như Trung Quốc, Singapore. Cho dù phải đánh giá thận trọng hơn về chất lượng tham gia nhưng phải nói rằng mức độ tham gia ở Việt Nam là cao (ai cũng thuộc về ít nhất là một tổ chức nào đó) và đó là kết quả của sự khuyến khích và huy động sức dân của Nhà nước cao hơn so với các nước trong khu vực, điều này có nguồn gốc từ quan điểm của dân, do dân mà Hồ Chí Minh đã khỏi xuống ở Việt Nam.
Mô hình tham gia của người dân đã được áp dụng từ lâu và khá phổ biến trong các phong trào quần chúng và huy động sức dân, tuy nhiên, đứng ở một góc độ nào đó thì còn có phần thiên lệch, mang tính hình thức (bề nổi) chưa thực sự vững chắc (sâu) trong xã hội.
Tóm lại, văn hóa nhân quyền ở phương diện phương pháp mô hình tham gia người dân có mức độ áp dụng phổ biến nhưng quán triệt trong mọi công việc còn ở mức thấp.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)