1.Khái niệm quyền hưởng thụ là gì ?

Quyền hưởng dụng được hiểu là quyền của chủ thể được khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác trong một thời hạn nhất định. 

Khái niệm người hưởng thụ là gì ?

Trong tài chính, người thụ hưởng được hiểu cơ bản chính là người đủ điều kiện nhận các khoản phân phối từ sự ủy thác, ý nguyện hoặc chính sách bảo hiểm nhân thọ.

Người thụ hưởng thường sẽ được nêu tên cụ thể trong các tài liệu liên quan hoặc đã đáp ứng các quy định trong luật để nhằm mục đích có thể nhận các khoản phân phối này.

Các chủ thể là những người thụ hưởng là người hoặc những người được nhận những lợi ích về vật chất hoặc phi vật chất do bản thân người thụ hưởng tạo ra hoặc người khác đã tạo ra chỉ định hoặc công nhận. Nói một cách đơn giản khác, chủ thể là người thụ hưởng là người nhận được lợi ích theo sự chỉ định hoặc sự công nhận trong phạm vi pháp luật cho phép.

Đặc điểm của người hưởng thụ 

Thông thường, chủ thể là người thụ hưởng của một ủy thác, ý nguyện hoặc chính sách bảo hiểm nhân thọ có thể là bất kì cá nhân hoặc tổ chức nào.

Các chủ thể là những cá nhân phân phối các quỹ, hoặc chủ thể là những nhà hảo tâm có thể đưa ra các quy định khác nhau về việc giải ngân, chẳng hạn cụ thể như người thụ hưởng phải đạt được một độ tuổi nhất định hoặc đã kết hôn.

Các chủ thể là những người thụ hưởng có thể bị đánh thuế. Ví dụ cụ thể như trong khi tiền vốn gốc của chính sách bảo hiểm nhân thọ không bị đánh thuế nhưng tiền lãi tích lũy thì bị đánh thuế.

2.Quy định về quyền hưởng thụ

Ngoài quyền sở hữu tài sản (gồm ba quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt), thì tài sản còn có thể bị một số ràng buộc khác ảnh hưởng rất nhiều đến quyền của chủ sở hữu cũng như bên nhận bảo đảm. Đó là quyền khác đối với tài sản và hạn chế quyền đổi với tài sản do thỏa thuận theo hợp đồng. Quyền khác đối với tài sản bao gồm: quyền đối với bất động sản liền kề; quyền hưởng dụng và quyền bề mặt. Quyền đối với tài sản do thỏa thuận theo hợp đồng như quyền của người thuê tài sản.

Quyền hưởng dụng và quyền của người thuê tài sản cũng là một vấn đề pháp lý đặc biệt quan trọng trong quan hệ bảo đảm bằng tài sản.

Tài sản và giao dịch thế chấp là hợp pháp, hợp lệ nhưng rất có thể không còn hoặc chĩ còn rất ít giá trị trên thực tế nếu tài sản bảo đảm lại đang do người khác có quyền hưồng dụng hay đang có quyền sử dụng do thuê dài hạn.

Quyền hưởng dụng là khái niệm chưa có trong hai Bộ luật Dân sự năm 1995 và 2005.

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền hưởng dụng như sau:

Quyền hưởng dụng là quyền của chủ thể được khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức đối vổi tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác trong một thời hạn nhất định;

Quyền hưởng dụng được xác lập theo quy định của luật, theo thỏa thuận hoặc theo di chúc;

Quyền hưởng dụng được xác lập từ thời điểm nhận chuyển giao tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác và có hiệu lực đối vói mọi cá nhân, pháp nhân, trừ trưồng hợp luật liên quan có quy định khác. Như vậy, quyền hưỏng dụng không phụ thuộc vào việc đăng ký (hiện nay pháp luật chưa có quy định về việc đăng ký quyền hưởng dụng), nên bên nhận bảo đảm có thể không biết tài sản bảo đảm đang có người có quyền hưởng dụng;

Thời hạn của quyền hưởng dụng do các bên thỏa thuận hoặc do luật quy định nhưng tôì đa đến hết cuộc đòi của cá nhân hưởng dụng đầu tiên hoặc đến khi pháp nhân chấm dứt tồn tại nhưng tốỉ đa 30 năm đối với người hưỏng dụng đầu tiên là pháp nhân;

Người hưởng dụng có các quyền sau: tự mình hoặc cho phép người khác khai thác, sử dụng, thu hoa lợi, lợi tức từ đốì tượng của quyền hưởng dụng; cho thuê quyền hưỏng dụng trong thời hạn của quhưởng dụng;

Chủ sở hữu tài sản có một số quyền như: định đoạt tài sản nhưng không được làm thay đổi quyển hưỏng dụng đã được xác lập; không được cản trở, thực hiện hành vi khác gây khó khăn hoặc xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người hưởng dụng;

Người hưởng dụng có quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng.

Trong các trường hợp trên, thì bên nhận thế chấp có nguy cơ rất lớn là không có quyền xử lý tài sản trên thực tế, vì không ai dại gì đi mua tài sản bị hạn chế rất nhiều quyền khai thác, sử dụng và định đoạt tài sản mà thậm chí đến chính chủ sở hữu cũng không có quyền thay đổi.

3.Một số quyền lợi của người thụ hưởng được pháp luật công nhận

Với mỗi lĩnh vực cụ thể hoặc trong từng trường hợp khác nhau thì người thụ hưởng sẽ nhận những lợi ích về vật chất hoặc phi vật chất tương ứng, cụ thể:

Nhận toàn bộ lợi ích được thụ hưởng một cách hợp pháp

Được quyền chỉ định người thụ hưởng lợi ích thay thế trong trường hợp cần chuyển giao lợi ích hoặc trao đổi lợi ích trong phạm vi điều chỉnh của pháp luật hiện hành.

Được quyền yêu cầu thời hạn thụ hưởng trong trường hợp có thỏa thuận từ trước với người cho thụ hưởng (thỏa thuận không trái với quy định pháp luật)

Được quyền yêu cầu điều chỉnh phần lợi ích được thụ hưởng tăng thêm hoặc giảm bớt dựa trên những điều kiện cụ thể (Yêu cầu này không được trái luật)

Có thể từ chối thụ hưởng lợi ích phụ thuộc vào ý muốn của bản thân người thụ hưởng.​Như vậy, có thể thấy người thụ hưởng sẽ nhận được những lợi ích dưới sự chỉ định của người cho thụ hưởng và không trái quy định pháp luật hiện hành. Mặt khác, người thụ hưởng vẫn hoàn toàn có thể từ tối nhận những lợi ích này.

4.Vai trò và quyền lợi của người hưởng thụ

Vai trò của người thụ hưởng:

Trong tất cả các lĩnh vực này, các chủ thể là những người thụ hưởng luôn là đối tượng được hưởng lợi ích thuộc phạm vi được pháp luật công nhận.

– Các chủ thể là những người thụ hưởng hợp đồng bảo hiểm:

Người thụ hưởng hợp đồng bảo hiểm được hiểu cơ bản chính là người được chỉ định nhận khoản tiền đền bù hoặc khoản hoàn trả khi thanh lý hết hạn hợp đồng bảo hiểm của bản thân người thụ hưởng hoặc của người mua bảo hiểm

– Các chủ thể là những người thụ hưởng tài trợ:

Người thụ hưởng tài trợ được hiểu là người được xác định là đối tượng nhận lợi ích sau cùng của một khoản tài chính hoặc hiện vật được cấp miễn phí từ người khác không đòi hỏi sự hoàn trả lại hoặc trao đổi giá trị tương đương.

– Các chủ thể là những người thụ hưởng thư tín dụng:

Người thụ hưởng thư tín dụng (tín dụng chứng từ): là người được ngân hàng công nhận là đối tượng nhận khoản thanh toán khi xuất khẩu hàng hóa từ bên nhập khẩu được nêu rõ trong thư tín dụng.

– Các chủ thể là những người thụ hưởng sec:

Người thụ hưởng sec (hối phiếu) chính là người được nhận khoản tiền ghi trên sec khi tên người đó được ghi trên sec hoặc nắm giữ sec do người ký phát (ký sec) chỉ định hoặc chấp thuận.

– Các chủ thể là những người thụ hưởng trong giao dịch:

Các chủ thể là những người thụ hưởng trong giao dịch là người được nhận khoản thanh toán sau tất cả các quy trình của giao dịch. Giao dịch này có thể là bán hàng hóa, trả lương hưu, khoản trợ cấp xã hội…

– Các chủ thể là những người thụ hưởng tài sản thừa kế:

Các chủ thể là những người thụ hưởng tài sản thừa kế được hiểu là người được chỉ định nhận khoản tiền hoặc tài sản bằng hiện vật do người chỉ định để lại cho sau khi chết.

– Các chủ thể là những người thụ hưởng công trình nghiên cứu:

Người thụ hưởng trong một công trình nghiên cứu là người được xác định là đối tượng nhận được những lợi ích do công trình nghiên cứu mang lại.

– Các chủ thể là những người thụ hưởng chính sách xã hội:

Người thụ hưởng trong một chính sách xã hội là người được công nhận là đối tượng nhận được những lợi ích khi chính sách đó được áp dụng.

Quyền lợi của người thụ hưởng:

Dù chủ thể là người thụ hưởng luôn nhận được những lợi ích nhưng với mỗi lĩnh vực cụ thể hoặc trong từng trường hợp khác nhau thì quyền lợi của họ cũng sẽ được điều chỉnh và thay đổi.

– Nhận toàn bộ lợi ích được thụ hưởng hợp pháp theo quy định của pháp luật ban hành.

– Yêu cầu điều chỉnh lợi ích được thụ hưởng tăng thêm hoặc giảm bớt dựa trên những điều kiện cụ thể được đưa ra có thể chấp nhận được hay không trong phạm vi pháp luật quy định cụ thể.

– Chỉ định chủ thể là người thụ hưởng lợi ích thay thế trong trường hợp cần chuyển giao lợi ích hoặc trao đổi lợi ích trong phạm vi pháp luật quy định

– Từ chối thụ hưởng lợi ích trong trường hợp khi điều kiện được đưa ra không phù hợp hoặc theo ý muốn của bản thân chủ thể là người thụ hưởng được chỉ định đầu tiên trong phạm vi pháp luật quy định

– Yêu cầu về thời hạn thụ hưởng lợi ích chính xác trong trường hợp khi đã có thỏa thuận từ trước với người cho thụ hưởng trong phạm vi pháp luật quy định.

Như vậy, ta nhận thấy rằng, chủ thể là người thụ hưởng nhận được những lợi ích dưới sự chỉ định hoặc sự công nhận của pháp luật do quyền lợi bản thân hoặc do người khác quyết định. Dù vậy, chủ thể là người thụ hưởng vẫn sẽ có quyền quyết định thay đổi phần nào hoặc toàn bộ quyền thụ hưởng của mình.

5.Một số quy định cần biết đối với người thụ hưởng bảo hiểm cụ thể đó chính là các quy định

– Chủ thể là người thụ hưởng bảo hiểm thực chất chính là người được bên mua bảo hiểm chỉ định. Trong lúc hợp đồng còn thời hạn, chủ thể là bên mua bảo hiểm có thể thay đổi chủ thể là người thụ hưởng bảo hiểm nhiều lần. Việc thay đổi này cũng sẽ cần thông báo bằng văn bản cho công ty bảo hiểm,

– Chủ thể là bên mua bảo hiểm có thể chỉ định một hoặc nhiều người là người thụ hưởng bảo hiểm. Nếu có nhiều người thụ hưởng bảo hiểm trong cùng một hợp đồng thì tỷ lệ được hưởng sẽ phân chia theo quyết định của bên mua bảo hiểm. Tổng tỷ lệ phân chia không được vượt quá 100% tổng số tiền bảo hiểm.

– Chủ thể là người thụ hưởng bảo hiểm không nhất thiết phải là người có quan hệ huyết thống với bên mua bảo hiểm.

– Nếu chủ thể là người thụ hưởng dưới 18 tuổi thì khi người được bảo hiểm tử vong, người bảo hộ hợp pháp của người thụ hưởng sẽ đại diện nhận thay số tiền bảo hiểm này.

– Nếu chủ thể là người thụ hưởng phạm phải tội hình sự, người đó sẽ không nhận được số tiền đền bù. Thay vào đó số tiền này sẽ được chia cho những người thụ hưởng còn lại trong hợp đồng bảo hiểm.

– Để nhằm mục đích có thể nhận được tiền đền bù do chủ thể là người được bảo hiểm tử vong, chủ thể là người thụ hưởng sẽ cần có giấy chứng tử của người được bảo hiểm.

– Doanh nghiệp bảo hiểm không phải trả tiền bảo hiểm trong các trường hợp người được bảo hiểm chết hoặc bị thương tật vĩnh viễn do lỗi cố ý của bên mua bảo hiểm hoặc lỗi cố ý của người thụ hưởng theo quy định cụ thể tại Điểm b, Khoản 1, Luật kinh doanh bảo hiểm 2000.

– Trong trường hợp một hoặc một số người thụ hưởng cố ý gây ra cái chết hay thương tật vĩnh viễn cho người được bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải trả tiền bảo hiểm cho những người thụ hưởng khác theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm theo quy định cụ thể tại Khoản 2, Điều 39 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000.