1.Biện pháp đảm bảo là gì ?
Khái niệm biện pháp đảm bảo là gì ?
Biện pháp bảo đảm là loại trách nhiệm đặc biệt trong đó các bên có thể thỏa thuận phạm vi trách nhiệm, mức độ chịu trách nhiệm, mức độ chịu trách nhiệm và cả hình thức, biện pháp áp dụng trách nhiệm. Có thể tự họ áp dụng theo các biện pháp đã thỏa thuận mà không phụ thuộc vào ý chí của người thứ ba. Hơn nữa, người có quyền luôn là người được ưu tiên thanh toán từ số tiền ban đấu giá đối tượng bảo đảm. Đó là quyền đặc biệt của chủ nợ có bảo đảm nhằm bảo vệ hữu hiện nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền trong quan hệ nghĩa vụ dân sự.
2.Tất cả các biện pháp bảo đảm đều có các đặc điểm chung
Các biện pháp bảo đảm mang tính chất bổ sung cho nghĩa vụ chính.
Sự phụ thuộc thể hiện ở chỗ: khi có quan hệ nghĩa vụ chính thì các bên mới cùng nhau thiết lập một biện pháp bảo đảm. Nghĩa là việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ không tồn tại một cách độc lập.
Các biện pháp bảo đảm đều có mục đích nâng cao trách nhiệm của các bên trong quan hệ nghĩa vụ dân sự.
Thông thường, khi đặt ra biện pháp bảo đảm, các bên hướng tới mục đích nâng cao trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, các bên còn hướng tới mục đích nâng cao trách nhiệm trong giao kết hợp đồng của cả hai bên.
Đối tượng của các biện pháp bảo đảm là những lợi ích vật chất
Lợi ích vật chất là đối tượng của các biện pháp bảo đảm thường là một tài sản. Các đối tượng này phải có đủ các yếu tố mà pháp luật đã yêu cầu đối với một đối tượng của nghĩa vụ dân sự nói chung.
Phạm vi bảo đảm của các biện pháp bảo đảm không được vượt quá phạm vi nghĩa vụ đã được xác định trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ chính.
Khoản 1, điều 293 BLDS 2015 quy định: “Nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại.”
Các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ chỉ được áp dụng khi có sự vi phạm nghĩa vụ
Cho dù các bên đã đặt lại ra một biện pháp bảo đảm bên cạnh một nghĩa vụ chính nhưng vẫn không cần phải áp dụng biện pháp bảo đảm đó nếu nghĩa vụ chính đã được thực hiện một cách đầy đủ.
Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được xác lập từ sự thỏa thuận giữa các bên.
Các bên tự thỏa thuận về việc lựa chọn biện pháp bảo đảm nào để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ, đồng thời cách thức và toàn bộ nội dung của một biện pháp bảo đảm đều là kết quả của sự thỏa thuận giữa các bên.
3. Quy định về đăng kí biện pháp đảm bảo
Đăng ký biện pháp bảo đảm, trong đó có các hợp đồng bảo đảm, là việc cơ quan đăng ký ghi vào sổ đăng ký hoặc nhập vào Cơ sỗ dữ liệu về việc bên bảo đảm dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo đảm.
Cụm từ “đăng ký giao dịch bảo đảm” chỉ được quy định trong Bộ luật Dân sự cũ. Trước đó mối chỉ được quy định trong Nghị định số 08/2000/NĐ-CP cùng với sự ra đời của Cục Đăng ký quốc gia Giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp theo Quyết định số 104/2001/QĐ-TTg.
Bộ luật Dân sự năm 2015 đã sửa đổi cụm từ “đăng ký giao dịch bảo đảm” thành “đăng ký biện pháp bảo đảm”, vì ngoài việc đăng ký một số giao dịch bảo đảm, thì còn đăng ký thêm cả một biện pháp bảo đảm là bảo lưu quyền sở hữu.
Nếu như Bộ luật Dân sự cũ quy định việc đăng ký giao dịch bảo đảm là nghĩa vụ của bên nhận thế chấp1 thì Bộ luật Dân sự năm 2015 đã thay đổi thành quyền đăng ký thế chấp của bên nhận thê chấp. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc đăng ký biện pháp thế chấp là nghĩa vụ của các cơ quan nhà nưốc liên quan.
Biện pháp bảo đảm được đăng ký theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật. Hệ thống đăng ký sở hữu, đăng ký tài sản nói chung và đăng ký biện pháp bảo đảm nói riêng hiện nay vẫn còn manh mún, tản mạn, do nhiều cơ quan quản lý như Bộ Tài nguyên và Môi trường (đăng ký nhà, đất, dự án), Bộ Tư pháp (đăng ký giao dịch bảo đảm và công chứng), Bộ Giao thông vận tải (đăng ký sở hữu và đáng ký giao dịch bảo đảm tàu bay, tàu biển, phương tiện vận tải thủy nội địa, tàu hỏa, tàu điện), Bộ Công an (đăng ký phương tiện cơ giới đường bộ), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (đăng ký tàu cá).
Có 5 loại giao dịch bảo đảm phải đăng ký gồm: thế chấp quyền sử dụng đất; cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay; thế chấp tàu biển; thế chấp rừng sản xuất là rừng trồng; và các trường hợp khác, nếu pháp luật có quy định.
4. Các giao dịch bảo đảm bằng tài sản khác được đăng ký khi cá nhân, tổ chức có yêu cầu
Thứ nhất, việc cầm cố, thế chấp tàu bay được đăng ký tại Cục Hàng không Việt Nam, được ghi vào sổ đăng bạ tàu bay Việt Nam và cấp văn bản chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm bằng tàu bay cho người yêu cầu đăng ký;
Thứ hai, việc thế chấp tàu biển được đăng ký tại Cơ quan đăng ký tàu biển Việt Nam, được ghi vào sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam và cấp văn bản chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm bằng tàu biển cho người yêu cầu đăng ký.
Có một số ngân hàng nhận thế chấp tàu biển thuộc sở hữu của pháp nhân Việt Nam treo cờ quốc tịch nước ngoài và đăng ký thế chấp ỏ nước ngoài (như ở Mông cổ chẳng hạn). Trong trường hợp này, tàu thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân Việt Nam và bên nhận thế chấp cũng là Việt Nam, nhưng lại làm thủ tục đăng ký thê chấp ở nước ngoài. Ngoài ra, một số doanh nghiệp Việt Nam dùng tài sản là tàu biển hình thành trong tương lai đang được đóng ở nước ngoài để thế chấp cho ngân hàng hoạt động tại Việt Nam. Pháp luật Việt Nam hiện chưa có quy định về các trường hợp này.
Thứ ba, việc thế chấp bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được đăng ký tại Văn phòng đăng ký đất đai (trước năm 2017 là văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất), được ghi vào sổ địa chính, Giấy chứng nhận và chứng nhận nội dung đăng ký vào phiếu yêu cầu đăng ký.
Thứ tư, việc bảo đảm bằng chứng khoán đã đăng ký tập trung tại Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam thì được đăng ký biện pháp bảo đảm tại Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam. Việc đăng ký biện pháp bảo đảm đốì vói chứng khoán khác
thực hiện tại các Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản của Cục đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư Pháp theo quy định của pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm1;
Thứ năm, việc thế chấp các tài sản khác, như thê chấp hàng hóa, phương tiện giao thông vận tải, quyền tài sản được đăng ký tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản thuộc Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp và được ghi vào phiếu yêu cầu đăng ký, sổ tiếp nhận, nhập thông tin vào cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm
5. Các trường hợp phải đăng kí thay đổi nội dung giao dịch
Căn cứ theo Điều 18 Nghị định 102/2017/NĐ-CP quy định người yêu cầu đăng ký nộp hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung biện pháp bảo đảm đã đăng ký nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
– Trường hợp cần rút bớt, bổ sung hoặc thay thế nội dung về bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm theo thỏa thuận của bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm; trường hợp cần thay đổi tên hoặc thay đổi thông tin bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm do tổ chức lại doanh nghiệp;
– Trường hợp bên bảo đảm rút bớt tài sản bảo đảm;
– Trường hợp cần bổ sung tài sản bảo đảm mà bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm không ký kết hợp đồng bảo đảm mới;
– Trường hợp tài sản bảo đảm là tài sản hình thành trong tương lai đã hình thành ở hiện tại, trừ trường hợp tài sản bảo đảm hình thành trong tương lai là hàng hóa được luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc trường hợp tài sản bảo đảm hình thành trong tương lai là phương tiện giao thông cơ giới đã được kê khai số khung khi đăng ký biện pháp bảo đảm.
– Trường hợp tài sản bảo đảm là tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai, tài sản đó bao gồm cả nhà ở hình thành trong tương lai đã hình thành, thì khi đó thủ tục đăng ký thay đổi nội dung giao dịch bảo đảm được thực hiện đồng thời với thủ tục chứng nhận quyền sở hữu tài sản vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất;
– Trường hợp có yêu cầu sửa chữa sai sót nội dung đã kê khai trong phiếu yêu cầu đăng ký giao dịch bảo đảm;
– Trường hợp bổ sung nghĩa vụ được bảo đảm mà trong hợp đồng bảo đảm ban đầu bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm không có thỏa thuận về việc cầm cố hoặc thế chấp tài sản để bảo đảm cho các nghĩa vụ phát sinh trong tương lai.
Hồ sơ đăng kí thay đổi nội dung giao dịch bảo đảm bao gồm:
– 01 bản chính đơn yêu cầu đăng kí thay đổi nội dung giao dịch bảo đảm đã đăng kí theo mẫu;
– Đơn yêu cầu đăng ký thay đổi nội dung giao dịch bảo đảm (nếu là bản giấy) phải có đầy đủ chữ ký, con dấu (nếu có) của tổ chức, cá nhân.
– 01 bản chính hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng bảo đảm đã kí hoặc 01 bản chính hoặc 01 bản sao có chứng thực văn bản chứng minh nội dung thay đổi;
– 01 bản chính giấy chứng nhận đăng kí giao dịch bảo đảm đã được cơ quan có thẩm quyền cấp;
– 01 bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản đối với tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật là tài sản phải đăng kí quyền sở hữu;
– Bản sao có chứng thực giấy tờ chứng minh tư cách pháp lý của người yêu cầu đăng ký thay đổi nội dung giao dịch bảo đảm và 01 bản sao có chứng thực hoặc 01 bản sao kèm bản chính để đối chiếu của văn bản ủy quyền trong trường hợp người yêu cầu đăng ký thay đổi nội dung giao dịch bảo đảm là người được ủy quyền.
– Số lượng hồ sơ: 01 bộ.
(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)