1.Khái niệm cá nhân là gì ?
Khái niệm cá nhân dùng để chỉ con người cụ thể sống trong một xã hội nhất định và được phân biệt với các cá thể khác thông qua tính đơn nhất và tính phổ biến của nó.
Khái niệm cá nhân cũng được phân biệt với khái niệm con người. Bởi xét về bản chất thì con người là khái niệm dùng để chỉ tính phổ biến của tất cả các cá nhân.
Các cá nhân sống và hoạt động trong các nhóm, cộng đồng và tập đoàn xã hội khác nhau, mang tính lịch sử xác định. Yếu tố xã hội là đặc trưng căn bản để hình thành cá nhân.
Dưới góc độ triết học, khái niệm cá nhân được hiểu là một chỉnh thể đơn nhất, vừa mang tính cá biệt vừa mang tính phổ biến, là chủ thể của lao động, của mọi quan hệ xã hội và của nhận thức nhằm thực hiện chức năng cá nhân và chức năng xã hội trong một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội.
Mặc dù pháp luật chưa có quy định cụ thể về khái niệm này, nhưng chúng ta cũng có thể hiểu cá nhân là một chủ thể trong quan hệ pháp luật, đặc biệt là trong các giao dịch dân sự. Cá nhân dưới góc độ pháp luật không chỉ là công dân của nước Việt Nam mà còn bao gồm cả những người có quốc tịch khác hoặc không có quốc tịch.
2. Mối quan hệ giữa cá nhân với Nhà nước và pháp luật
Nhà nước và cá nhân luôn tồn tại các mối quan hệ nhất định thể hiện qua các yếu tố sau:
- Mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân là mối quan hệ cơ bản, quan trọng, tương đối ổn định và bền vững, đó là mối quan hệ qua lại hai phía nhưng không ngang bằng nhau mà phụ thuộc vào ý chí của nhà nước.
Trong quan hệ này, đặc biệt là công dân thì nhà nước là tổ chức công quyền thực hiện việc quản lý cá nhân bằng pháp luật, bảo đảm, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân được thực hiện và không bị xâm hại.
Nhà nước quy định các quyền và nghĩa vụ của cá nhân trong pháp luật. Ngoài ra, công dân cũng có quyền yêu cầu, đòi hỏi nhà nước bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình.
- Mối quan hệ thể hiện tập trung ở quy chế pháp lý của cá nhân.
Quy chế pháp lý của cá nhân được hiểu là sự ghi nhận bằng pháp luật địa vị của cá nhân trong xã hội, nghĩa là địa vị pháp lý mà các cá nhân có được do nhà nước quy định trong pháp luật, bao gồm các nội dung như:
- Các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý của cá nhân;
- Năng lực pháp luật và năng lực hành vi của cá nhân;
- Bảo đảm quyền và nghĩa vụ pháp lý của cá nhân;
- …
Đặc biệt, Hiến pháp 2013 cũng đã quy định rõ rành về các quyền con người, quyền công dân. Do đó, quyền của cá nhân luôn được bảo vệ ở mức độ cao nhất.
3. Chủ thể hợp đồng bảo đảm là cá nhân
Cá nhân tham gia giao dịch dân sự nói chung, giao dịch bảo đảm nói riêng thì phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự.
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự. Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi ngưòi đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết .
Các giao dịch bảo đảm với bốn nhóm người, gồm người chưa thành niên; ngưòi bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, thì phải thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc phải được người giám hộ đồng ý.
Hậu quả pháp lý của việc cầm cố, thế chấp tài sản trong trường hợp phải xử lý tài sản bảo đảm để trả nợ cũng tương tự như việc định đoạt tài sản. Vì vậy, trường hợp cha mẹ hoặc ngưòi giám hộ quản lý tài sản riêng của trẻ em thì có quyền cầm cố, thế chấp tài sản theo các quy đỉnh sau: người giám hộ của ngưòi chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình; được thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ. Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và giao dịch dân sự khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
Trường hợp cha mẹ hoặc người giám hộ quản lý tài sản riêng của con dưối 15 tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, nếu con từ đủ 9 tuổi trồ lên thì
phải xem xét nguyện vọng của con. Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ. Trong trường hợp con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì việc định đoạt tài sản riêng của con do người giám hộ thực hiện.
4. Việc giám hộ được quy định tại các điều, từ điều 46 đến 63, BLDS năm 2015
Việc giám hộ được quy định tại các điều, từ điều 46 đến 63, Bộ luật Dân sự năm 2015, trong đó người giám hộ có thể là cá nhân hoặc pháp nhân, gồm 3 loại:
Thứ nhất, giám hộ đương nhiên là vỢ chồng; con; cha mẹ; anh chị ruột; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột;
Thứ hai, giám hộ là cá nhân hoặc pháp nhân được ủy ban nhân dân cấp xã cử hoặc được Toà án chỉ định;
Thứ ba, giám hộ do ngưồi được giám hộ tự lựa chọn từ trước.
Trường hợp giám sát việc giám hộ liên quan đến quản lý tài sản của người được giám hộ thì người giám sát phải đăng ký tại ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ.
Khi giao dịch, đốì tác không thể tự quyết định được ai là người bị mất hoặc hạn chê năng lực hành vi dân sự (trừ căn cứ vào độ tuổi), mà chỉ có thể căn cứ vào phán quyết của Toà án. Vì vây, khi có sự nghi ngờ về năng lực hành vi, thì cần hết sức thận trọng để tránh giao dịch bị vô hiệu.
Hợp đồng bảo đảm cần ghi rõ cả nơi cư trú, bao gồm cả thường trú và nơi tạm trú (hay “địa chỉ nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện tại”) của cá nhân theo các quy định sau: Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú, là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ỏ nhất định và đã đăng ký thường trú. Nơi tạm trú là nơi người đó đang sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú. Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới.
Như vậy, các bên có quyền yêu cầu bên kia, có nghĩa vụ thông báo cho nhau biết khi thay đổi nơi cư trú. Nêu một bên không thực hiện nghĩa vụ này, thì bên kia sẽ không chịu trách nhiệm về việc không thực hiện đúng nghĩa vụ do không nhận được thông tin giao dịch.
5. Năng lực chủ thể
- là khả năng pháp lí của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật
- với tư cách là chủ thể của quan hệ đó
- bao gồm hai yếu tố năng lực pháp luật và năng lực hành vi.
Năng lực chủ thể của cá nhân
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là thuộc tính nhân thân của chủ thể và không thể dịch chuyển cho chủ thể khác.
Nó xuất hiện từ khi người đó sinh ra cho đến khi người đó chết đi.
Năng lực chủ thể của pháp nhân
Năng lực chủ thể của pháp nhân là khả năng cho phép của pháp nhân và khả năng tự có của chính pháp nhân để pháp nhân trở thành chủ thể độc lập khi tham gia các quan hệ pháp luật.
Điểm giống
– Đều có khả năng tham gia vào quan hệ pháp luật với tư cách là một chủ thể.
– Tự mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật đã tham gia.
– Năng lực chủ thể của cả hai đối tượng này đều bao gồm năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự.
Điểm khác
| Tiêu chí | Năng lực chủ thể của cá nhân | Năng lực chủ thể của pháp nhân |
| Cơ sở pháp lý | Điều 16 đến Điều 24 Bộ luật Dân sự 2015 | Điều 86 Bộ luật Dân sự 2015 |
| Đối tượng | – công dân Việt Nam; – người nước ngoài – người không quốc tịch sinh sống lao động và học tập trên lãnh thổ Việt Nam. | – các cơ quan nhà nước; – tổ chức xã hội; – tổ chức kinh tế; – đơn vị hành chính sự nghiệp. Có cơ cấu tổ chức thống nhất được các văn bản pháp luật quy chế điều lệ của các tổ chức quy định.
|
| Thời điểm phát sinh và chấm dứt | Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết. (khoản 3 điều 16) | Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; Nếu pháp nhân phải đăng ký hoạt động thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm ghi vào sổ đăng ký. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân chấm dứt kể từ thời điểm chấm dứt pháp nhân. (khoản 2-3 điều 86) |
| Phân loại | Gồm năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. Năng lực pháp luật: Điều 17-18-19 Năng lực hành vi: Điều 20-24 · Phân loại năng lực hành vi: – có đầy đủ năng lực hành vi dân sự: người thành niên – có một phần năng lực hành vi dân sự: người chưa thành niên – người mất năng lực hành vi dân sự – người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi – người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. | · Năng lực pháp luật dân sự: – Phát sinh đồng thời và chấm dứt năng lực hành vi – Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân mang tính chất chuyên biệt (chuyên trách trong một lĩnh vực xác định) · Năng lực hành vi dân sự: + được thể hiện qua hành vi đại diện hợp pháp; + thể hiện hành vi của nhân viên, của những người được giao nhiệm vụ cụ thể khi giao dịch với người bên ngoài pháp nhân. |