CƠ SỞ PHÁP LÝ

Hiến pháp nước Cộng hòa Ba Lan 1997

Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993

Hiến pháp Italia 1947

Hiến pháp Nhật Bản 1946

hiến pháp cộng hòa Xéc năm 1992

Đạo luật Liên bang Áo năm 1970

NỘI DUNG TƯ VẤN

1. Thành lập Chính phủ theo hình thức nghị viện

Theo hình thức này, việc thành lập Chính phủ dựa trên kết quả của cuộc bầu cử vào Hạ nghị viện (Nghị viện đối với nước có một viện). Các nước có chính thể đại nghị và hỗn hợp áp dụng hình thức này. Theo nguyên tắc chung, người đứng đầu nhà nước chỉ định người đứng đầu Chính phủ trên cơ sở là người đứng đầu Chính phủ và toàn bộ chính phủ sẽ nhận được sự ủng hộ của Hạ nghị viện (Nghị viện). Thông thường người đứng đầu nhà nước chỉ định lãnh tụ của đảng chiếm đa số ghế tuyệt đối ở Hạ nghị viện (Nghị viện) đứng ra thành lập Chính phủ, trường hợp không đảng nào chiếm được đa số ghế nói trên, chỉ định thủ lĩnh của liên minh các đảng chiếm đa số ghế. về phần mình, người đứng đầu Chính phủ sẽ chọn các thành viên còn lại của Chính phủ và xây dựng chương trình hoạt động của chính phủ. Sau đó toàn bộ thành viên của Chính phủ cùng chương trình Chính phủ được đưa ra trước Hạ nghị viện (Nghị viện) để lấy phiếu tín nhiệm. Trường hợp Hạ nghị viện (Nghị viện) tín nhiệm Chính phủ, người đứng đầu nhà nước sẽ ký quyết định bổ nhiệm người đứng đầu Chính phủ. Ở một số nước như Bungari, sau khi Nghị viện thông qua quyết định của Tổng thống về việc bổ nhiệm Thủ tướng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chọn các thành viên còn lại của Chính phủ và đệ trình lên để Tổng thống bổ nhiệm.

>> Xem thêm:  Quy trình Chào hàng canh tranh rút gọn mới nhất năm 2022

ở Cộng hòa liên bang Đức Viện Bunđextác (Hạ nghị viện) bầu Thủ tướng Chính phủ liên bang theo đề nghị của Tổng thống liên bang. Nếu viện Bunđextác bác bỏ ứng cử viên do Tổng thống liên bang đưa ra thì Tổng thống có quyền giải thể viện Bunđextác và bổ nhiệm Thủ tướng Chính phủ. Theo đề nghị của Thủ tướng, Tổng thống Liên bang bổ nhiệm các thành viên còn lại của Chính phủ. Theo Điều 111 Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993, Tổng thống liên bang đệ trình ứng cử viên vào chức danh Chủ tịch Chính phủ liên bang để Đuma Quốc gia (Hạ nghị viện) biểu quyết tín nhiệm. Nếu Đuma Quốc gia ba lần liên tiếp bác bỏ ứng cử viên do Tổng thống liên bang đưa ra thì Tổng thống sẽ giải thể Đuma Quốc gia và ấn định cuộc bầu cử mới đồng thời Tổng thống liên bang bổ nhiệm Chủ tịch Chính phủ liên bang.

Như vậy, theo hình thức Nghị viện sáng kiến thành lập Chính phủ thuộc Người đứng đầu nhà nước nhưng để hoạt động được Chính phủ phải nhận được sự tín nhiệm của Nghị viện (Hạ nghị viện). Trường hợp Nghị viện (Hạ nghị viện) không tín nhiệm Chính phủ do Người đứng đầu nhà nước thành lập sẽ dẫn đến khả năng giải thể Nghị viện (Hạ nghị viện).

2. Thành lập chính phủ theo hình thức ngoài Nghị viện

Hình thức ngọài Nghị viện được áp dụng ở các nước có chính thể cộng hòa tổng thống, quân chủ nhị nguyên. Theo hình thức này, các thành viên của bộ máy hành pháp (Chính phủ) do Tổng thống (Nhà vua) bổ nhiệm mà không cần phải nhận được sự tín nhiệm của Nghị viện. Ví dụ, theo khoản 1 Điều 189 Hiến pháp Colombia năm 1991 Tổng thống nước cộng hòa là Người đứng đầu nhà nước, Người đứng đầu Chính phủ và cơ quan hành pháp, có quyền độc lập bổ nhiệm và bãi nhiệm các bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ.

Một số nước khác như Mỹ, Philippin Nghị viện cũng tham gia vào việc thành lập bộ máy của chính quyền hành pháp trung ương. Ví dụ, theo phần 2 khoản 2 Điều 2 Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787, Tổng thống bổ nhiệm các quan chức cao cấp của bộ máy hành pháp theo sự cố vấn và đồng ý của Thượng nghị viện; theo khoản 16 Điều 7 Hiến pháp Philippin năm 1987 Tổng thống bổ nhiệm các thành viên của Chính phủ và một số quan chức khác với sự nhất trí của ủy ban bổ nhiệm của Nghị viện. Tuy nhiên cơ sở để cho rằng ở hai nước này việc thành lập Chính phủ được tiến hành theo hình thức ngoài Nghị viện là sự giám sát việc bổ nhiệm các thành viên của Chính phủ từ phía Thượng nghị viện (Mỹ) và ủy ban bổ nhiệm (Philippin) không mang tính chất chính trị (không phụ thuộc vào kết quả của cuộc bầu cử vào Nghị viện mà mang tính chất cá nhân, tức là Thượng nghị viện (Mỹ) và ủy ban bổ nhiệm (Philippin) chỉ xem xét tư cách đạo đức, năng lực của từng ứng cử viên đối với từng chức vụ cụ thể.

3. Thành phần chính phủ

Thành phần Chính phủ của các nước trên thế giới rất đa dạng. Ở Cộng hòa Liên bang Nga ngoài Người đứng đầu Chính phủ (Chủ tịch chính phủ) chỉ có các Phó chủ tịch Chính phủ và các Bộ trưởng mới là thành viên của chính phủ. Đa số các nước khác có thành phần chính phủ rộng hơn tức là ngoài người đứng đầu Chính phủ và các Bộ trưởng, thành phần của Chính phủ còn bao gồm cả các Quốc vụ khanh (Thư ký nhà nước) như ở Anh, Đức, Hy Lạp, Pháp...; Thư ký Nghị viện như ở Áo, Anh, Mỹ...

Thuật ngữ “Quốc vụ khanh” (Thư ký nhà nước) được các nước sử dụng theo các nghĩa khác nhau. Ví dụ, ở Hy Lạp, Quốc vụ khanh là Thứ trưởng thứ nhất, ngoài ra còn có Quốc vụ khanh thường trực đảm nhận việc lãnh đạo bộ máy của các cơ quan ngang bộ; ở Mỹ, Quốc vụ khanh là Bộ trưởng, Bộ trưởng ngoại giao được gọi là Thư ký nhà nước (Secretary of State); ở Anh Thư ký nhà nước là các Bộ trưởng chính (thành viên của Nội các); ở Hunggari và Rumani Quốc vụ khanh là người lãnh đạo của các cơ quan Phi chính phủ; ở Pháp Quốc vụ khanh là người đứng đầu các cơ quan thuộc Bộ, có hàm tương đương với Thứ trưởng và có thể thay mặt Bộ trưởng làm đại diện cho Chính phủ tại Nghị viện khi bàn các vấn đề liên quan đến lĩnh vực phụ trách.

>> Xem thêm:  Chính phủ là gì ? Vị trí, tính chất và chức năng của Chính Phủ

Ngoài ra một số nước còn sử dụng thuật ngữ “Bộ trưởng Nhà nước”. Ví dụ, ở Nauy Bộ trưởng nhà nước là Người đứng đầu Chính phủ (Thủ tướng Chính phủ); ở Nhật Bản tất cả các thành viên của Nội các được gọi là Bộ trưởng nhà nước; ở Anh Bộ trưởng nhà nước có hàm thấp hơn Bộ trưởng chính và chỉ là thành viên của Chính phủ, chứ không phải là thành viên của Nội các; ở Bổ Đào Nha, Hunggari, Pháp Bộ trưởng nhà nước là các Phó thủ tướng phụ trách một số bộ, cơ quan ngang bộ.

Thư ký Nghị viện là quan chức của Chính phủ có nhiệm vụ duy trì mối liên hệ giữa Chính phủ với các ủy ban, các ban của Nghị viện.

Hiến pháp, luật của một số nước như Mỹ, Liên bang Nga, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ quy định cụ thể thành phần, cơ cấu của Chính phủ. Ngược lại những nước khác như Anh thành phần, cơ cấu của Chính phủ không được điều chỉnh bởi Hiến pháp và luật, do đó bản thân người đứng đâu Chính phủ khi thành lập chính phủ tự quyết số thành viên của Chính phủ.

4. Trách nhiệm chính trị của Chính phủ

Pháp luật của các nước đều quy định chính phủ phải chịu trách nhiệm về những hoạt động của mình. Có hai loại trách nhiệm, trách nhiệm chính trị và trách nhiệm pháp lý.

Chính phủ nói chung và các thành viên của Chính phủ nói riêng chịu trách nhiệm chính trị trước Nghị viện hoặc trước Người đứng đầu nhà nước về việc thực hiện đường lối chính sách (hoạt động chính trị) của mình.

Trách nhiệm chính trị của Chính phủ trước Nghị viện được áp dụng ở những nước có chính thể đại nghị, cộng hòa hỗn hợp. Trách nhiệm chính trị của Chính phủ trước Người đứng đầu nhà nước được áp dụng ở những nước có chính thể cộng hòa tổng thống, cộng hòa hỗn hợp và quân chủ nhị nguyên. Nội dung pháp lý của trách nhiệm chính trị của Chính phủ là sự từ chức của Chính phủ trong trường hợp Chính phủ không được Nghị viện hoặc người đứng đầu nhà nước tín nhiệm. Theo Điều 158 hiến pháp nước Cộng hòa Ba Lan năm 1997 Viện Xâyim (Hạ nghị viện) bằng đa số phiếu tuyệt đối của tổng số thành viên, theo yêu cầu của ít nhất 46 đại biểu, biểu quyết không tín nhiệm Hội đồng bộ trưởng (Chính phủ), đồng thời bầu ra Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng mới. Trong trường hợp này Hội đồng bộ trưởng đương nhiệm phải từ chức, Tổng thống Ba Lan sẽ bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng do Viện Xâyim bầu ra và theo đề nghị của Chủ tịch bổ nhiệm các thành viên còn lại của Chính phủ. Điều 74 Hiến pháp nước Cộng hòa Áo năm 1920 quy định, Hội đồng dân tộc (Hạ nghị viện) có thể biểu quyết không tín nhiệm Chính phủ liên bang hay từng thành viên của Chính phủ liên bang. Quyết định không tín nhiệm Chính phủ liên bang phải được sự tán thành của hơn nửa số đại biểu Hạ nghị viện với điều kiện phải có hơn nửa tổng số đại biểu Hạ viện tham gia cuộc họp.

Chính phủ cũng từ chức trong trường hợp Nghị viện từ chối tín nhiệm Chính phủ. Theo Điều 68 Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức năm 1949 nếu Thủ tướng liên bang đề nghị viện Bunđextác bày tỏ sự tín nhiệm đối với Chính phủ mà không được đa số thành viên của viện tán thành, đồng thời viện Bunđextác, bằng đa số phiếu tuyệt đối của tổng số thành viên, bầu ra Thủ tướng liên bang mới thì toàn bộ Chính phủ đương nhiệm phải từ chức.

Ở Italia, Nhật Bản, Rumani Chính phủ chịu trách nhiệm chính trị trước cả hai viện của Nghị viện, trong khi đó ở Anh, Ba Lan, Đức, Nga, Tây Ban Nha, Pháp v.v... Chính phủ chỉ chịu trách nhiệm chính trị trước Hạ nghị viện.

>> Xem thêm:  Mẫu Báo cáo tình hình thực hiện dự án đầu tư mới nhất và Quy trình thẩm tra dự án đầu tư ?

Nếu như ở Italia và Nhật Bản Chính phủ chịu trách nhiệm trước từng viện của Nghị viện thì ở Rumani Chính phủ chịu trách nhiệm trước cả hai viện đổng thời.

Trách nhiệm về việc thực hiện ngân sách của Chính phủ cũng là một loại trách nhiệm chính trị. Ở một số nước, việc Nghị viện không thông qua ngân sách hoặc không phê chuẩn quyết toán ngân sách cũng dẫn đến sự từ chức của Chính phủ.

Trách nhiệm chính trị của Chính phủ trước Người đứng đầu nhà nước thể hiện dưới hình thức là Người đứng đầu nhà nước cách chức toàn bộ Chính phủ hay từng thành viên của Chính phủ. Theo đoạn 2 Điều 117 Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993, Tổng thống Liên bang Nga có thể cách chức toàn bộ Chính phủ liên bang hay từng thành viên của Chính phủ liên bang mà không bị ràng buộc bởi bất cứ điều kiện nào. Ví dụ, ngày 23/3/1998 Tổng thống Liên bang Nga B.Enxin đột ngột tuyên bố giải thể Chính phủ Liên bang Nga với lý do là Chính phủ đương nhiệm không thực hiện được yêu cầu cải thiện tình hình kinh tế - xã hội do Tổng thống đề ra, trong đó có vấn đề Chính phủ nợ lương cán bộ, công nhân viên chức. 5 tháng sau ngày 23/8/1998 Tổng thống Enxin lại ký lệnh cách chức Chính phủ của Thủ tướng Kiriencô mà không đưa ra lời giải thích nào.

Ớ đa số các nước, trách nhiệm của Chính phủ mang tính chất liên đới. Trong trường hợp đường lối chính sách của chính phủ không được Nghị viện hoặc Người đứng đầu Nhà nước tán thành thì toàn bộ Chính phủ phải từ chức.

5. Trách nhiệm pháp lý của chính phủ

Từng thành viên của Chính phủ phải chịu trách nhiệm pháp lý về những hành vi vi phạm pháp luật của mình. Đối với những nước mà pháp luật có quy định quyền bất khả xâm phạm của các thành viên của Chính phủ thì chỉ có Nghị viện mới có quyền tước bỏ quyền bất khả xâm phạm này. Sau đó việc truy cứu trách nhiệm pháp lý sẽ được tiến hành theo thủ tục thông thường. Ví dụ, theo đoạn 1,2 phần B Điều 142 Hiến pháp nước Cộng hòa Áo, thành viên của Chính phủ liên bang trong quá trình hoạt động có thể bị truy cứu trách nhiệm pháp lý vì hành vi vi phạm pháp luật của mình. Lời buộc tội do Hội đồng dân tộc (Hạ nghị viện) đưa ra trong phiên họp của Hội đổng với sự tham gia của đa số thành viên của Hội đồng. Theo đoạn 4 Điều 142, quyết định buộc tội của Tòa án hiến pháp Áo sẽ dẫn đến thành viên Chính phủ bị buộc tội phải từ chức, trong trường hợp tăng nặng tạm thời tước quyền chính trị. Nếu hành vi của thành viên này cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì Tòa án hiến pháp sẽ khởi tố vụ án theo Luật Hình sự hiện hành.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email [email protected] để được giải đáp thắc mắc.

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Chính phủ điện tử là gì? Chức năng và mục tiêu của Chính phủ điện tử?

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê