1. Khái niệm về ly hôn theo quy định của luật hôn nhân gia đình

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có nêu rõ: Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Tòa án là cơ quan duy nhất có trách nhiệm ra phán quyết chấm dứt quan hệ hôn nhân của vợ chồng. Phán quyết ly hôn của Tòa án thể hiện dưới hai hình thức: bản án hoặc quyết định: 

  • Nếu hai bên vợ chồng thuận tình ly hôn thỏa thuận với nhau giải quyết được tất cả các nội dung quan hệ vợ chồng khi ly hôn thì Tòa án công nhận ra phán quyết dưới hình thức là quyết định.
  • Nếu vợ chồng có mâu thuẫn, tranh chấp thì Tòa án ra phán quyết dưới dạng bản án ly hôn.

Xem thêm: Ly hôn đơn phương nhưng vợ hoặc chồng không đồng ý ký đơn xử lý như thế nào?

 

2. Quyền lưu cư của vợ hoặc chồng sau khi ly hôn là như thế nào?

Trong thực tế, sau khi ly hôn, một bên vợ hoặc chồng chưa thể sắp xếp được chỗ ở do nhiều nguyên do chủ quan hoặc khách quan: thời gian gấp gáp, điều kiện kinh tế chưa cho phép,... Pháp luật đã dự tính trường hợp này và quy định cụ thể về quyền lưu cư của vợ hoặc chồng sau khi ly hôn trong Luật hôn nhân và gia đình như sau: Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó; trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

 

2.1. Căn cứ phát sinh quyền lưu cư

Từ quy định trên, quyền lưu cư được hiểu là quyền tiếp tục được cư trú tại nhà ở thuộc quyền sở hữu của vợ hoặc chồng trong một khoảng thời gian nhất định. Quyền lưu cư chỉ phát sinh khi vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở. Việc xác định có khó khăn về chỗ ở là một vấn đề khó, thường thì sẽ do các bên thỏa thuận hoặc tòa án sẽ xác định, đó có thể là do khó khăn về kinh tế nên chưa thể mua được nhà, thuê được nhà ở tạm thời; bị nhà nước thu hồi đất để phục vụ công tác giải phòng mặt bằng mà chưa được giải quyết về chỗ ở, hoặc các trường hợp khác. Vấn đề khó khăn về chỗ ở phải thực sự cấp thiết, thực tế, khách quan mà không thể khắc phục được, buộc vợ hoặc chồng phải lưu cư và được bên vợ (chồng) còn lại tôn trọng và bảo đảm quyền cho họ.

 

2.2. Thời hạn lưu cư

Thời hạn lưu cư được pháp luật ấn định là 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, tức là kể từ ngày bản án, quyết định của tòa án có thẩm quyền có hiệu lực pháp luật. Đánh giá sơ bộ về khoảng thời gian luật định, 06 tháng là con số khá hợp lý, đủ cơ bản để vợ hoặc chồng chuẩn bị chỗ ở mới và giải quyết những khó khăn về chỗ ở của mình. Tuy nhiên, con số này có thể thay đổi dựa trên thỏa thuận của vợ chồng, sao cho phù hợp nhất và đó cũng là điều mà pháp luật mong muốn, tôn trọng ý chí của các bên trong một mối quan hệ đã từng được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.

Trên cơ sở tìm hiểu quy định về lưu cư, Luật Minh Khuê tóm tắt một số vấn đề cần lưu ý đối với quyền lưu cư của vợ, chồng như sau: Quyền lưu cư của vợ hoặc chồng phải là sự kết hợp của các điều kiện:

Thứ nhất, Nhà ở mà vợ (chồng) thực hiện quyền lưu cư là tài sản riêng của vợ (chồng) hoặc đó là tài sản được tòa án chia cho thuộc về vợ hoặc chồng (đã thanh toán khoản tiền cho bên còn lại); 

Thứ hai, Vợ (hoặc chồng) có quyền lưu cư khi gặp những khó khăn về chỗ ở (khó khăn được xác định theo thỏa thuận hoặc nhờ tòa án xác định;

Thứ ba, Thời hạn lưu cư là 06 tháng hoặc khoảng thời gian khác do các bên thỏa thuận nhưng phải hợp lý và phù hợp với thực tế, tránh tình trạng hạn chế quyền của vợ, hoặc chồng đẩy họ vào tình cạnh khốn cùng về chỗ ở, làm trái với tinh thần, giá trị mà pháp luật về hôn nhân và gia đình mang lại.

 

3. Ví dụ về quyền lưu cư của vợ hoặc chồng sau khi ly hôn

Bản án 13/2018/HNGĐ-PT ngày 07/05/2018 về tranh chấp tài sản chung của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương có nội dung:

“Bà Mai Thị T và ông Vũ Văn Đ kết hôn vào năm 1977, có đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, sau khi kết hôn từ năm 1977 vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Bà T và ông Đ sống ly thân đã lâu và không còn tình cảm nên bà T làm đơn khởi kiện ly hôn, ông Đ nhất trí. Bà T ông Đ đều xác định tài sản chung của vợ chồng gồm có diện tích 123,2m2 đất ở, địa chỉ đường L, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương, trên đất có nhà xây mái bằng bê tông cốt thép ba tầng.

Khi ly hôn ông bà đề nghị chia đôi tài sản chung của vợ chồng cho mỗi người một nửa. Quan điểm của bà T: bà nhận hiện vật hay tiền mặt bà đều nhất trí nhưng nếu nhận tiền mặt thì yêu cầu thực hiện ngay; còn ông Đ xin được hưởng bằng hiện vật nhưng ông không có tiền mặt để trả chênh lệch cho bà T .”

Hội đồng xét xử đưa ra phán quyết: giao toàn bộ nhà và đất cho bà T sử dụng, bà T có trách nhiệm thanh toán cho ông Đ ½ giá trị nhà và đất bằng tiền mặt. Tuy nhiên, Tòa án sẽ quyết định cho ông Đ được lưu cư trên nhà, đất đến khi bà T trả tiền xong cho ông Đ.

 

4. Một số quyền khác của vợ, chồng sau khi ly hôn hiện nay

4.1. Quyền chia tài sản của vợ chồng

Tài sản chung là một vấn đề cốt lõi cần giải quyết trong các vụ việc ly hôn. Vấn đề này được luật hóa cụ thể:

Một là: Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án sẽ giải quyết theo quy định;

Hai là: Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau: Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; Công sức đóng góp của vợ, chồng;...

Ba là: Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

Bốn là: Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định. Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

 

4.2. Quyền nuôi con

Điều 81, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn  như sau:

Trước tiên, vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Tuy nhiên, con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Quy định trên thể hiện quyền ưu tiên nuôi con về phía người mẹ trong trường hợp ly hôn - bảo đảm thiên chức làm mẹ của người phụ nữ, trong giai đoạn nhạy cảm của cuộc đời.

 

4.3. Quyền được cấp dưỡng

Nghĩa vụ cấp dưỡng lẫn nhau giữa vợ và chồng có thể xem là một hệ quả về quyền của các bên sau khi ly hôn. Quyền này thông thường có tính chất quan trọng hơn với phụ nữ, bởi phụ nữ nói chung có sự yếu thế hơn về mặt kinh tế so với người chồng của họ. Theo pháp luật về hôn nhân và gia đình: Khi ly hôn nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình.

Trên đây là toàn bộ nội dung về chủ đề Quyền lưu cư của vợ hoặc chòng sau khi ly hôn được hiểu như thế nào theo quy định mới mà Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách hàng. Ngoài ra, quý khách có thể tham khảo thêm về bài viết Điều kiện được ly hôn đơn phương theo pháp luật Việt Nam là gì? của Luật Minh Khuê.

Còn bất cứ vướng mắc nào, quý khách vui lòng liên hệ qua hotline: 19006162, để yêu cầu dịch vụ ly hôn vui lòng trao đổi trực tiếp Luật sư Tô Thị Phương Dung qua số điện thoại: 0986.386.648 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ. Chúng tôi rất hân hạnh hợp tác với quý khách hàng. Trân trọng ./.