1. Khái niệm chỉ số ROE 

ROE viết tắt của cụm từ Return on equity có nghĩa là lợi nhuận trên vốn cổ phần (vốn chủ sở hữu). Đây là thu nhập ròng được chia cho tổng vốn cổ phần; đó là tỷ số về khả năng sinh lợi của một khoản đầy tư trên mỗi đồng vốn mà nhà đầu tư bỏ ra; nó cũng đánh giá được khả năng số vốn cổ phẩn đã được sử dụng hiệu quả thế nào.

ROE hay chính là tỷ suất lợi nhuận trên vốn sẽ thể hiện được mối quan hệ giữa lợi nhuận thu được với số vốn bỏ ra trong cùng một kì, vốn sẽ bao gồn vốn cố định và vốn lưu động. Các nhà đầu tư tiềm năng sẽ dựa vào tỷ suất lợi nhuận trên vốn để xem công ty sử dụng tiền của họ để tạo ra lợi nhuận như thế nào, sử dụng để so sánh tình trạng hoạt động của một doanh nghiệp với các doanh nghiệp cùng ngành và với các thị trường lớn hơn.

 

2. Công thức tính chỉ số ROE trên báo cáo tài chính

Công thức tính chỉ số ROE trên báo cáo tài chính được thực hiện qua các bước như sau: 

Bước 1: Xác định chỉ tiêu cho mức lợi nhuận sau thuế doanh nghiệp

Bước 2: Tìm kiếm chỉ tiêu mức vốn sở hữu xác định của các doanh nghiệp qua công thức:

Vốn chủ sở hữu bình quân = (Vốn chủ sở hữu đầu kỳ + Vốn chủ sở hữu cuối kỳ) / 2

Bước 3: Tính chỉ số ROE theo công thức 

ROE = (Lãi ròng sau thuế/ Vốn chủ sở hữu) × 100%

Trong đó: 

- Lợi nhuận sau thuế là lợi nhuận ròng mà một công ty tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan. 

- Vốn chủ sở hữu là phần vốn mà công ty tự bỏ ra hoặc là phần chênh lệch giữa tài sản và nợ phải trả của công ty. Đây là số tiền còn lại nếu một công ty quyết định thanh toán các khoản nợ của mình tại một thời điểm nhất định.

ROE được biểu thị bằng phần trăm. Hoàn toàn có thể tính toán được khi thu nhập ròng và vốn chủ sở hữu đều là số dương. Cách tính ROE dựa trên vốn chủ sở hữu bình quân trong một thời kỳ được coi là phương pháp hay nhất vì nó giảm thiểu tối đa tình trạng không khớp giữa báo cáo thu nhập và bảng cân đối kế toán. Từ đó bạn có thể dễ dàng tính toán chỉ số ROE từ Báo cáo tài chính (BCTC) của doanh nghiệp, được công bố định kỳ hàng quý và hàng năm.

 

3. Ý nghĩa của chỉ số ROE 

Khi doanh nghiệp tính toán được chỉ số ROE - tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp, nhà đầu tư đã phác thảo rõ ràng tỷ lệ phần trăm lợi nhuận thu được của các cổ đông vốn chủ sở hữu. Cũng chính từ đó giúp các nhà đầu tư có sự so sánh giữa hiệu suất của các khoản đầu tư cổ phiếu khác nhau. Điều này có thể ảnh hưởng đến chiến lược và quyết định đầu tư trong tương lai của họ. Còn đối với các ngân hàng, họ sẽ quyết định có hợp tác với doanh nghiệp đó hay không hoàn toàn dựa vào chỉ số ROE. Khi mà ROE cao thì doanh nghiệp sẽ có khả năng thanh toán và đảo vòng vốn ổn định cho ngân hàng.

Thật không sai khi nói chỉ số ROE giống như tiếng nói của công ty, thể hiện được mức độ uy tín của công ty đối với các nhà đầu tư trên sàn giao dịch. Trên sàn chứng khoán các doanh nghiệp phải cạnh tranh rất gay gắt để làm tăng chỉ số ROE bởi vì chỉ số này của công ty nào cao tức là đang có những lợi thế để thu hút đầu tư nghiêng về phía doanh nghiệp đó. 

Tuy được đánh giá là một chỉ số thông dụng được các nhà đầu tư sử dụng để tính toán khả năng sinh lời của một công ty nhưng chỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu vẫn còn tồn tại nhiều những hạn chế. Một số trong số hạn chế của chỉ số ROE. Thứ nhất nó có thể gây hiểu lầm trong trường hợp các công ty mới gia nhập thị trường có yêu cầu vốn cao trong những ngày đầu tiên dẫn đến tình trạng chỉ số ROE thấp hơn. Nhưng chúng ta có thể khắc phục hoàn toàn và điều chỉnh những bất cập ấy bằng cách sử dụng các lưu ý kế toán khác nhau, như tăng tuổi thọ dự án, giảm tỷ lệ khấu hao .... Bất cập thứ hai chúng tôi muốn đề cập đến chính là chỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu - ROE thiếu đi sự ổn định vì lợi nhuận của các doanh nghiệp trên sàn giao dịch luôn có sự biến thiên bất thường. 

 

4. Đánh giá chỉ số ROE 

Khi đánh giá chỉ số ROE có thể phụ thuộc vào ROE trung bình trong ngành của công ty. Một số ngành có xu hướng có ROE cao hơn những ngành khác hoặc yêu cầu ít vốn sở hữu hơn để hoạt động. Lúc này mới có thể nói chỉ số ROE là “cao” hoặc “thấp” nên được đưa ra trong bối cảnh như thế này. 

Ví dụ: Vào năm 2020, ROE tiêu chuẩn cho các công ty trong ngành công nghiệp ô tô là khoảng 12,5%. Tuy nhiên, ROE của một công ty trong lĩnh vực bán lẻ là hơn 18%. Chỉ số ROE càng cao thì càng chứng minh được là công ty đó đang quản lý và sử dụng nguồn vốn của mình hiệu quả.

Khi xem xét và đánh giá chỉ số ROE của một công ty, các chuyên gia thường tính trong khoảng thời gian ít nhất là 3 năm thay vì đánh giá theo một năm lẻ. Một công ty có ROE trong 3 năm liên tiếp lớn hơn 20% thì được xem là có sức cạnh tranh tốt.

Điểm đáng lưu ý ở đây là đôi khi ROE cực kỳ cao sẽ là một điều tốt nếu được đặt trong điều kiện là thu nhập ròng cực kỳ lớn so với vốn chủ sở hữu, bởi vì khi đó hoạt động của công ty rất mạnh. Trên thực tế thông thường, chỉ số ROE cực cao thường do tài khoản vốn chủ sở hữu nhỏ so với thu nhập ròng, điều này cho thấy rủi ro. Một trong các lý do sau có thể lý giải cho những rủi ro này:

- Thứ nhất, lợi nhuận không nhất quán. Khi chỉ số ROE cao có thể tiềm ẩn vấn đề đầu tiên đó chính là do lợi nhuận không nhất quán. Giả sử khi một công ty X đã không có lãi trong vài năm. Các khoản lỗ hàng năm được ghi nhận trên bảng cân đối kế toán trong phần vốn chủ sở hữu dưới dạng “lỗ giữ lại”. Các khoản lỗ ấy lại là một giá trị âm và nó làm giảm vốn cổ đông. Tiếp tục giiả sử công ty X đã làm ăn thuận lợi trong năm gần đây nhất và có lãi trở lại. Từ đó làm cho mẫu số trong tính toán ROE vào thời điểm hiện tại rất nhỏ do sau nhiều năm công ty X làm ăn thua lỗ. Điều này làm cho chỉ số ROE của nó cao một cách không chính xác.

- Thứ hai, vấn đề có thể dẫn đến chỉ số ROE cao là dư nợ. Giả sử công ty X vay nặng lãi, nó có thể làm tăng ROE vì vốn chủ sở hữu bằng tài sản trừ đi nợ. Công ty càng có nhiều nợ, vốn chủ sở hữu có thể giảm xuống.

- Thứ ba, là về thu nhập ròng âm. Có thể nhận thấy rõ ràng là thu nhập ròng âm và vốn chủ sở hữu âm có thể tạo ra chỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu - ROE cao một cách giả tạo. Vì vậy, nếu một công ty bị lỗ ròng hoặc âm vốn chủ sở hữu thì không nên thực hiện tính ROE. Trong mọi trường hợp, mức ROE âm hoặc cực cao nên được coi là một dấu hiệu cảnh báo đáng để điều tra.

Dưới đây là bài viết với nội dung ROE là gì? Công thức tính chỉ số ROE trên báo cáo tài chính do công ty Luật Minh Khuê tổng hợp và biên tập. Hy vọng nội dung cung cấp sẽ hữu ích đối với bạn đọc. Trong quá trình biên tập không thể tránh khỏi những sai sót, chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp từ quý bạn đọc. Xin chân thành cảm ơn!