1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách "100 Câu hỏi về giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình tại Tòa án" do tác giả Chu Xuân Minh làm chủ biên.

 

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách 100 Câu hỏi về giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình tại Tòa án

100 Câu hỏi về giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình tại Tòa án

Tác giả: Chu Xuân Minh chủ biên

Nhà xuất bản Tư Pháp

 

3. Tổng quan nội dung sách

Cuốn sách "100 Câu hỏi về giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình tại Tòa án” là 100 vướng mắc thường gặp trong thực tiễn, một số vướng mắc đã được nêu và thảo luận tại các chương trình trao đổi nghiệp vụ Tòa án. Việc tập hợp, chỉnh lý 100 câu hỏi này góp phần nâng cao kiến thức, kinh nghiệm cho những người tham gia vào việc giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án và nhằm tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hôn nhân và gia đình tới bạn đọc.

Ngoài ra, cuốn sách còn có một số tình huống điển hình về giải quyết án hôn nhân và gia đình để phục vụ cho việc nghiên cứu của sinh viên, học viên tại các cơ sở đào tạo về tư pháp.

Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản cuốn “100 câu hỏi về giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình tại Tòa án” do tác giả Chu Xuân Minh làm chủ biên.

Cuốn sách được biên soạn với cấu trúc gồm 3 phần như sau:

Phần thứ nhất. 100 câu hỏi về giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình

Phần thứ hai. Một số tình huống về giải quyết án hôn nhân và gia đình

Phần thứ ba. Văn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình

Phần này các tác giả hệ thống cả những văn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình từ năm 1959 để phục vụ bạn đọc trong việc nghiên cứu, tìm hiểu và giải quyết vụ việc hôn nhân gia đình.

 

4. Đánh giá bạn đọc

100 vướng mắc thường gặp trong thực tiễn, một số vướng mắc đã được nêu và thảo luận tại các chương trình trao đổi nghiệp vụ Tòa án đã được hệ thống trong cuốn sách, trở thành tài liệu tham khảo hữu ích trong học tập đối với sinh viên, học viên ngành luật, phục vụ hiệu quả trong công tác thực tiễn tư vấn và giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình.

Cuốn sách có thể coi là một cẩm nang về nghiệp vụ đối với Thẩm phán.

Nội dung cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích cho những người làm công tác thực tiễn, nghiên cứu và bạn đọc.

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách "100 Câu hỏi về giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình tại Tòa án".

Câu hỏi 14. Chị An và anh B có đơn thuận tình ly hôn, có thỏa thuận về việc nuôi con chung và chia tài sản chung. Tòa án đã thụ lý việc dân sự nêu trên. Tòa án sẽ xử lý tiếp theo như thế nào trong các trường hợp sau:

- Chị A thay đổi ý kiến về chia tài sản chung. Anh B đồng ý theo yêu cầu mới của chị A về chia tài sản chung

- Chị A thay đổi ý kiến, không đồng ý ly hôn mà xin được đoàn tụ?

- Anh B thay đổi ý kiến về nuôi con chung, chị A không đồng ý yêu cầu mới của anh B.

Trả lời:

Khi cả hai vợ chồng chị A và anh B cùng có đơn hoặc cùng ký vào đơn có nội dung yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản chung, thì đó là yêu cầu về hôn nhân và gia đình theo khoản 2 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và tòa án thụ lý, giải quyết theo thủ tục việc dân sự.

Sau khi Tòa án đã thụ lý theo trình tự việc dân sự, một trong hai bên hoặc cả hai bên có sự thay đổi yêu cầu. Nếu hai bên đạt được thỏa thuận mới, kể cá thỏa thuận chưa yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản, thì Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết theo thủ tục việc dân sự (ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn). Nếu các đương sự không thỏa thuận được về việc chia tài sản hoặc việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Tòa án phải đình chỉ giải quyết việc dân sự về công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và thụ lý vụ án để giải quyết (Khoản 5 Điều 397 BLTTDS năm 2015).

Như vậy, xem xét các tình huống nêu trên thì:

- Trường hợp chị A thay đổi ý kiến về chia tài sản chung, anh B đồng ý theo yêu cầu mới của chị A về chia tài sản chung: Đây là trường hợp có thay đổi về yêu cầu song cả hai vẫn đạt được sự đồng thuận chung về yêu cầu mới, nên Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết theo thuc tục dân sự.

- Trường hợp chi A thay đổi ý kiến, không đồng ý ly hôn mà xin được đoàn tụ: Đây là trường hợp một bên có sự thay đổi yêu cầu. Từ việc thuận tình ly hôn nay thành việc một bên xin ly hôn. Do đó, Tòa án phải đình chỉ giải quyết việc dân sự và thụ lý vụ án để giải quyết. Khi chuyển từ thủ tục giải quyết việc dân sự về công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn sang thủ tục giải quyết vụ án, Tòa án không phải thông báo việc thụ lý vụ án, không phải phân công lại Thẩm phán giải quyết vụ án (Khoản 5 Điều 397 BLTTDS năm 2015).

- Trường hợp anh B thay dổi ý kiến về nuôi con chung, chị A không đồng ý yêu cầu mới của anh B: Đây là trường hợp đương sự vẫn thuận tình ly hôn, chỉ không thống nhất được với nhau về việc nuôi con chung Điểm b khoản 4 Điều 397 BLDS năm 2015 đã qu định điều kiện đầy đủ để ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn là phải có sự thỏa thuận "việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con". Do đó, dù đã thỏa thuận về ly hôn, thỏa thuận về tài sản mà không thỏa thuận được việc nuôi con chung thì cũng vẫn phải chuyển sang thủ tục giải quyết vụ án theo Khoản 5 Điều 397 BLTTDS năm 2015.

Câu 15. Sau khi hòa giải, vợ chồng thỏa thuận trở về đoàn tụ, Tòa án ra quyết định "Công nhận hòa giải đoàn tụ thành" hay ra quyết định "Đình chỉ giải quyết vụ án"?

Trả lời:

Quyết định công nhận hòa giải đoàn tụ thành là theo hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. tại điểm a khoản 10 Nghị quyết này quy định: "Nếu hoà giải đoàn tụ thành mà người yêu cầu xin ly hôn rút đơn yêu cầu xin ly hôn thì Toà án áp dụng điểm 2 Điều 46 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Nếu người xin ly hôn không rút đơn yêu cầu xin ly hôn thì Toà án lập biên bản hoà giải đoàn tụ thành. Sau 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản, nếu vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng không có sự thay đổi ý kiến cũng như Viện Kiểm sát không phản đối thì Toà án ra quyết định công nhận hoà giải đoàn tụ thành. Quyết định công nhận hoà giải đoàn tụ thành có hiệu lực pháp luật ngay và các đương sự không có quyền kháng cáo, Viện Kiểm sát không có quyền kháng nghị theo trình tự phúc thẩm."

Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao thường hướng dẫn áp dụng pháp luật về nội dung và hướng dẫn áp dụng pháp luật về tố tụng. HƯớng dẫn nêu trên là một hướng dẫn về tố tụng. Do đó, khi BLTTDS năm 2004 có hiệu lực thi hành thì quy định của BLTTDS đã thay thế hướng dẫn nói trên. Theo quy định của BLTTDS năm 2004 thì dù nguyên đơn có đơn hay chỉ có lời khai rút yêu cầu ly hôn thì Tòa án cũng ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

Theo pháp luật tố tụng hiện hành thì Tòa án cũng ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án trong trường hợp "người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện" (Điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015). Trường hợp giải quyết việc xin thuận tình ly hôn thì tại khoản 3 Điều 397 BLTTDS 2015 cũng quy định: "trường hợp sau khi hòa giải, vợ chồng đoàn tụ thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu của họ".

Giải thích về các yếu tố xem xét khi chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP)

Trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia:

a) “Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng” là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng.

b) “Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.

c) “Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập” là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.

Ví dụ: Vợ chồng có tài sản chung là một chiếc ô tô người chồng đang chạy xe taxi trị giá 400 triệu đồng và một cửa hàng tạp hóa người vợ đang kinh doanh trị giá 200 triệu đồng. Khi giải quyết ly hôn và chia tài sản chung, Tòa án phải xem xét giao cửa hàng tạp hóa cho người vợ, giao xe ô tô cho người chồng để họ tiếp tục kinh doanh, tạo thu nhập. Người chồng nhận được phần giá trị tài sản lớn hơn phải thanh toán cho người vợ phần giá trị là 100 triệu đồng.

d) “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.

Ví dụ: Trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên.

5. Giá trị tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ, chồng được xác định theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết sơ thẩm vụ việc.

6. Khi giải quyết chia tài sản khi ly hôn, Tòa án phải xem xét để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Ví dụ: Khi chia nhà ở là tài sản chung và là chỗ ở duy nhất của vợ chồng, trong trường hợp không chia được bằng hiện vật thì Tòa án xem xét và quyết định cho người vợ hoặc chồng trực tiếp nuôi con chưa thành niên, con bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự nhận hiện vật và thanh toán giá trị tương ứng với phần tài sản được chia cho người chồng hoặc vợ nếu người vợ hoặc chồng có yêu cầu.