1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách "Bình luận những điểm mới của Bộ luật lao động năm 2019" do PGS.TS. Trần Thị Thúy Lâm và TS. Đỗ Thị Dung đồng chủ biên cùng sự tham gia của tập thể tác giả:

1. THS.NCS. Hà Thị Hoa Phượng

2. ThS. NCS. Đoàn Xuân Trường

3. ThS. Nguyễn Tiến Dũng

 

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Bình luận những điểm mới của Bộ luật lao động năm 2019

Bình luận những điểm mới của Bộ luật lao động năm 2019

Tác giả: PGS.TS. Trần Thị Thúy Lâm và TS. Đỗ Thị Dung (đồng chủ biên)

Nhà xuất bản Lao Động

 

3. Tổng quan nội dung sách

Ngày 20/11/2019, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ TV nghĩa Việt Nam khóa XIV kỳ họp thứ 8 đã thông qua Bộ luật Lao động số 45/2014/QH14. Bộ luật này thay thế Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021.

Với quan điểm chỉ đạo ban hành, Bộ luật Lao động năm 2019 đã kết thừa những quy định tiến bộ trong Bộ luật Lao động số 10/2012/QH133, tiến hành sửa đổi, bổ sung những quy định còn bất cập, đồng thời bổ sung những quy định mới, nhằm thể chế hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 và đảm bảo sự thống nhất của hệ thống pháp luật, hoàn thiện khung pháp lý về quan hệ lao động ở Việt Nam theo hướng phù hợp hơn với nền kinh tế thị trường và bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Từ đó bảo đảm cho quan hệ lao động trong các đơn vị sử dụng lao động, nhất là doanh nghiệp, phát triển hài hoà, ổn định nâng cao hiệu quả, năng suất lao động, đồng thời giảm thiểu ở mức thấp nhất những tranh chấp xảy ra.

So với quy định của Bộ luật Lao động năm 2012, các quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 có nhiều điểm mới tiến bộ. Để giúp độc giả, người lao động, người sử dụng lao động và những người thực thi, nghiên cứu, giảng dạy, học tập về pháp luật lao động hiểu biết thêm những quy định mới này, Nhà xuất bản Lao động xuất bản cuốn “Bình luận những điểm mới của luật Lao động năm 2019” do các tác giả là giảng viên Bộ Luật Lao động, Khoa Pháp luật Kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội biên soạn.

Cuốn sách được biên soạn với cấu trúc chương mục như sau:

Phần thứ nhất. Tổng quan về Bộ luật lao động năm 2019

1. Sự cần thiết của việc ban hành Bộ luật lao động năm 2019

2. Quan điểm chỉ đạo xây dựng Bộ luật lao động năm 2019

3. Nội dung và những điểm mới cơ bản của Bộ luật lao động năm 2019

Phần thứ hai. Bình luận một số điểm mới về những quy định chung

1. Về đối tượng áp dụng

2. Về giải thích một số từ ngữ

3. Về quy định các tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong xây dựng quan hệ lao động

Phần thứ ba. Bình luận những điểm mới về hợp đồng lao động

1. Về giao kết hợp đồng lao động

2. Về thực hiện hợp đồng lao động

3. Về chấm dứt hợp đồng lao động

4. Về hợp đồng lao động vô hiệu

Phần thứ tư. Bình luận một số điểm mới về đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng tập thể, thỏa ước lao động tập thể

1. Về đối thoại tại nơi làm việc

2. Về thương lượng tập thể

3, Về thỏa ước lao động tập thể

Phần thứ năm. Bình luận một số điểm mới về tiền lương và thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

1. Về tiền lương

2. Về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

Phần thứ sáu. Bình luận một số điểm mới về kỷ luật lao động

1. Về khái niệm kỷ luật lao động

2. Về nội quy lao động

3. Về hình thức kỷ luật lao động

Phần thứ bảy. Bình luạn điểm mới về những quy định riêng đối với lao động nữ và bảo đảm bình đẳng giới

Phần thứ tám. Bình luận điểm mới về những quy định riêng đối với lao động chưa thành niên và một số lao động khác

1. Lao động chưa thành niên

2. Người lao động cao tuổi

3. Lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam

4. Lao động là người khuyết tật

Phần thứ chín. Bình luận điểm mới về tuổi nghỉ hưu

1. Sửa đổi quy định về tuổi nghỉ hưu của người khuyết tật

2. Sửa đổi quy định về điều kiện hưởng bảo hiểm hưu trí

3. Về triển khai thực thi quy định về tuổi nghỉ hưu

Phần thứ mười. Quy định của Bộ luật lao động năm 2019 về tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở

1. Bối cảnh hình thành tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở

2. Quy định của Bộ luật lao động năm 2019 về tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở

Phần thứ mười một. Bình luận những điểm mới về giải quyết tranh chấp lao động

1. Về khái niệm tranh chấp lao động và tranh chấp lao động tâp thể

2. Về nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động

3. Về chủ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động

4. Về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động

Phần thứ mười hai. Bình luận những điểm mới về đình công

1. Về quyền đình công và các trường hợp đình công của người lao động

2. Về chủ thể có quyền tổ chức và lãnh đạo đình công

3. Về sửa đổi, bổ sung các trường hợp đình công bất hợp pháp

4. Về xử lý cuộc đình công không đúng trình tự, thủ tục

 

4. Đánh giá bạn đọc

Cuốn sách được biên soạn với các phần nội dung riêng biệt, tại mỗi phần các tác giả đã chỉ rõ quy định mới của Bộ luật lao động năm 2019, đưa ra phân tích, bình giải về điểm mới này trên cơ sở lý luận và thực tiễn cũng như tương thích với pháp luật lao động quốc tế rất rõ ràng thuận tiện cho việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy của sinh viên, giảng viên ngành luật, đồng thời cũng là tài liệu tham khảo cần thiết đối với người làm công tác tại cơ quan nhà nước về lao động, người hành nghề luật.

Cuốn sách "Bình luận những điểm mới của Bộ luật lao động năm 2019" không chỉ có giá trị về mặt khoa học pháp lý mà còn có giá trị thực tiễn đối với bạn đọc.

 

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Bình luận những điểm mới của Bộ luật lao động năm 2019".

Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây bình giải quy định mới về tổ chức đại diện người lao động (NLĐ) tại Bộ luật lao động năm 2019 để bạn đọc tham khảo:

Nguyên tắc, quan điểm, định hướng sửa đổi

Bộ luật Lao động 2019 quy định về tổ chức đại diện NLĐ nằm ngoài hệ thống Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trên cơ sở bảo đảm các nguyên tắc, quan điểm và định hướng sau:

(1) Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức đại diện NLĐ, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường quản lý có hiệu quả và tạo điều kiện cho tổ chức này hoạt động thuận lợi, lành mạnh theo đúng pháp luật, phù hợp với các nguyên tắc của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam đã tham gia.

(2) Vai trò, vị thế chính trị - xã hội của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tiếp tục được khẳng định. Các tổ chức đại diện của NLĐ nằm ngoài hệ thống Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam không phải là tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, về bản chất là tổ chức xã hội đơn thuần, chỉ làm chức năng đại diện bảo vệ quyền hợp pháp, lợi ích chính đáng của NLĐ trong phạm vi quan hệ lao động. Chỉ có Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội theo đúng quy định của Hiến pháp 2013 (trong thực tiễn hoạt động, tổ chức công đoàn sẽ đóng vai trò nòng cốt, chủ yếu trong việc đại diện người lao động trong doanh nghiệp).

(3) Bảo đảm phù hợp với quy luật của quan hệ lao động trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; khắc phục những tồn tại trong quan hệ lao động trong suốt thời gian qua, đảm bảo tổ chức đại diện NLĐ có thể tiến hành thương lượng tập thể một cách thực chất, hiệu quả về tiền lương và điều kiện làm việc theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ.

Nội dung sửa đổi, bổ sung

(1) Về việc thành lập, đăng ký hoạt động của tổ chức đại diện NLĐ

Bộ luật Lao động 2019 quy định có tính nguyên tắc đối với 3 vấn đề cốt lõi nhất, bao gồm: (1) quyền thành lập, gia nhập tổ chức đại diện; (2) điều kiện đối với ban lãnh đạo và người đứng đầu tổ chức; và (3) điều kiện về tôn chỉ, mục đích hoạt động của tổ chức đại diện NLĐ, cụ thể như sau:

Một là, quyền của NLĐ trong việc thành lập, gia nhập tổ chức đại diện: Bộ luật quy định có tính nguyên tắc NLĐ có quyền thành lập, gia nhập và hoạt động trong tổ chức đại diện theo quy định của pháp luật. Tổ chức của NLĐ chỉ được công nhận và hoạt động hợp pháp sau khi đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Hai là, điều kiện đối với ban lãnh đạo và người đứng đầu tổ chức: Nhằm tránh sự can thiệp của các cá nhân, tổ chức từ bên ngoài đối với việc thành lập tổ chức đại diện của NLĐ tại doanh nghiệp, Bộ luật quy định ban lãnh đạo và người đứng đầu tổ chức của NLĐ phải là NLĐ Việt Nam đang làm việc tại đơn vị sử dụng lao động và được NLĐ bầu, không phạm một số tội hình sự.

Ba là, tôn chỉ, mục đích và điều lệ của tổ chức: Nhằm bảo đảm tổ chức của NLĐ chỉ hoạt động trong phạm vi quan hệ lao động tại cơ sở một cách lành mạnh, Bộ luật quy định tổ chức này phải có tôn chỉ mục, mục đích phù hợp, không được có mục đích chính trị, chỉ hoạt động bảo vệ quyền lợi NLĐ trong phạm vi quan hệ lao động tại cơ sở; phải có nguyên tắc tổ chức, hoạt động phù hợp; có nguồn tài chính hợp pháp, được quản lý công khai, minh bạch... (chỉ có công đoàn mới là tổ chức chính trị - xã hội và có các chức năng chính trị - xã hội, tổ chức và hoạt động thống nhất theo Điều lệ Công đoàn Việt Nam).

Những vấn đề chi tiết của những nội dung trên và một số nội dung khác, Bộ luật giao Chính phủ quy định, cụ thể là:

Một là, trình tự thủ tục, thẩm quyền đăng ký, cấp đăng ký, thu hồi đăng ký, quản lỷ nhà nước đối với vấn đề tài chính, tài sản của tổ chức.

Hai là, việc chia, tách, sáp nhập, giải thể và vấn đề nhạy cảm nhất là quyền liên kết của các tổ chức của người lao động.

(2) Về nội dung, phạm vi hoạt động của tổ chức đại diện NLĐ trong quan hệ lao động

Thực chất toàn bộ quy định về nội dung, phạm vi hoạt động của tổ chức đại diện là những quy định về việc tham gia của tổ chức này như thế nào trong quá trình đối thoại, thương lượng tập thể, giải quyết tranh chấp lao động, trong đó quan trọng nhất là hoạt động thương lượng tập thể với NSDLĐ về tiền lương và điều kiện làm việc cho NLĐ.

Nhằm đảm bảo quan hệ lao động tại doanh nghiệp không bị hỗn loạn như trường hợp của Campuchia hay Indonesia, các quy định về thương lượng tập thể (Chương V của Bộ luật) được xây dựng bảo đảm một số nguyên tắc, bao gồm:

- Một là, một doanh nghiệp chỉ có một thương lượng tập thể và một thỏa ước lao động được ký kết cho dù doanh nghiệp có thể có nhiều tổ chức đại diện người lao động. Đây là nguyên tắc nhằm bảo đảm thương lượng tập thể được thực hiện theo cách không gây khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh bình thường của doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh có thể có nhiều tổ chức đại diện cùng tồn tại trong doanh nghiệp;

- Hai là, thỏa ước lao động tập thể dù được tổ chức đại diện nào thương lượng đều phải được đa số (trên 50%) NLĐ tại doanh nghiệp đồng ý mới được ký kết. Đây là những quy định nhằm bảo đảm thương lượng tập thể là hình thức quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi NLĐ, nên NLĐ phải là người có tiếng nói cuối cùng trong việc thông qua thỏa ước lao động tập thể.

Trên cơ sở những nguyên tắc trên, Bộ luật (Điều 68) quy định trong trường hợp doanh nghiệp có nhiều tổ chức đại diện thì cũng chỉ có một tổ chức đại diện NLĐ có quyền thương lượng tập thể là tổ chức thỏa mãn 2 điều kiện: i) là tổ chức có số thành viên nhiều nhất trong doanh nghiệp; ii) phải có số lượng đoàn viên tối thiểu là NLĐ tại đơn vị sử dụng lao động theo quy định của Chính phủ.

Trong trường hợp không có tổ chức nào thỏa mãn các điều kiện trên thì các tổ chức có thể kết hợp với nhau trên cơ sở tự nguyện để tiến hành thương lượng tập thể nếu có đủ tỷ lệ tổng số đoàn viên của các tổ chức trên tổng số NLĐ tại đơn vị sử dụng lao động thỏa mãn quy định của Chính phủ.

Những nội dung sửa đổi, bổ sung chính liên quan đến tổ chức đại diện NLĐ nêu trên của Bộ luật đã quán triệt và thể chế hóa toàn diện quan điểm của Đảng trong các Nghị quyết liên quan. Những sửa đổi, bổ sung cụ thể của Bộ luật Lao động là ở mức độ vừa đủ, đáp ứng đồng thời các yêu cầu:

Một là, bảo đảm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho công đoàn thuộc hệ thống Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trong bối cảnh mới, dù không phải là tổ chức duy nhất, song tiếp tục là tổ chức đại diện của NLĐ giữ vị trí và vai trò chiếm ưu thế tuyệt đối;

Hai là, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức của NLĐ hoạt động, vừa bảo đảm quản lý chặt chẽ đối với sự ra đời và hoạt động lành mạnh trong phạm vi quan hệ lao động tại cơ sở của tổ chức của NLĐ ngoài hệ thống Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam;

Ba là, phù hợp hơn với các tiêu chuẩn lao động quốc tế liên quan, đáp ứng các yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam.