1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách "Chủ quyền biển đảo Việt Nam- minh chứng lịch sử và cơ sở pháp lý" do PGS.TS. Đỗ Bang làm chủ biên. Nội dung cuốn sách là tập hợp 24 bài viết của các tác giả trong và ngoài nước được công bố tại hội thảo khoa học “Chủ quyền biển đảo Việt Nam- minh chứng lịch sử và cơ sở pháp lý” do Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên Huế tổ chức năm 2020.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Chủ quyền biển đảo Việt Nam- minh chứng lịch sử và cơ sở pháp lý

Chủ quyền biển đảo Việt Nam- minh chứng lịch sử và cơ sở pháp lý

Tác giả: PGS.TS. Đỗ Bang (chủ biên)

Nhà xuất bản Tri Thức

3. Tổng quan nội dung sách

Cuốn sách tập hợp 24 bài viết của các tác giả trong và ngoài nước được công bố tại hội thảo khoa học “Chủ quyền biển đảo Việt Nam- minh chứng lịch sử và cơ sở pháp lý” do Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên Huế tổ chức năm 2020.

1. Chủ quyền biển đảo Việt Nam minh chứng lịch sử và cơ sở pháp lý 
2. Minh chứng lịch sử và cơ sở pháp lý về chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thời chúa Nguyễn
3. Trang bị vũ khí vào huấn luyện thủy quân dưới triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX
4. Nhà Nguyễn với việc xây dựng hệ thống phòng thủ biển đảo Nam bộ nửa đầu thế kỷ XIX
5. Khảo cứu chủ quyền biển đảo Việt Nam dưới triều Nguyễn (1802 - 1885) qua Đại Nam Thực lục
6. Khánh Hòa Án sát xứ Hồ Hữu Thẩm với công cuộc đánh giặc biển java
7. Các di tích lịch sử, văn hóa ở Lý Sơn minh chứng thực địa sinh động về chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
8. Vấn đề chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa Trường Sa của Việt Nam qua báo chí quốc tế nửa đầu thế kỷ XX
9. Chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có nhận định của một số tác giả nước ngoài
10. Danh nghĩa chủ quyền hoàng Sa và Trường Sa nhìn qua điều 2 Hòa ước SanFransico 1951
11. Giá trị pháp lý của Công Thư năm 1958 liên quan đến chủ quyền quốc gia đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
12. Cơ sở pháp lý về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam 1954 - 1975
13. Tín ngưỡng thờ thần của cư dân ven biển Thừa Thiên Huế khảo sát trường hợp làng Phúc An, xã Vĩnh Điền, huyện Phú Lộc
14. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và sự vận dụng trong đấu tranh giữ vững chủ quyền biển, đảo Việt Nam hiện nay
15. Chính sách của nhà nước Việt Nam về bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển đảo
16. Cơ sở pháp lý quốc tế về xác lập chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
17. Chủ quyền không tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
18. Bàn thêm về nguyên tắc chiếm hữu thực sự và chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo vùng Hoàng Sa và Trường Sa
19. Luật quốc tế: Đem đại nghĩa thắng hung tàn, bảo vệ biển đảo Việt Nam
20. Tài liệu Trung Quốc viết về Hoàng Sa, Trường Sa và biển Đông: một cái nhìn tổng quan
21. Chiến lược biển của Trung Quốc đầu thế kỷ XXI và những thách thức đối với chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông
22. Thành phố Đà Nẵng với các mô hình quản lý hành chính quần đảo Hoàng Sa
23. Sử dụng tư liệu lịch sử về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo hoàng Sa, Trường Sa vào giảng dạy ở trường chính trị hiện nay
24. Những tư liệu minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo hoàng Sa và Trường Sa

Về minh chứng lịch sử: Các bài viết đi sâu làm rõ chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa được chính thức xác lập từ thời chúa Nguyễn (1558-1777), liên tục qua các vương triều Tây Sơn, vương triều Nguyễn và cho đến ngày nay. Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đã khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và nhiều vùng biển đảo khác thuộc lãnh thổ Việt Nam. Đây là một quá trình liên tục, lâu dài, diễn ra trong hòa bình, được ghi nhận trong nhiều nguồn sử liệu của Việt Nam và tư liệu, bản đồ của nhiều nước trên thế giới, trong đó có các nguồn tư liệu và bản đồ của Trung Quốc.                                                                                                

Về nội dung này, có các bài viết tiêu biểu: Những tư liệu minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (Nguyễn Nhã); Minh chứng lịch sử và cơ sở pháp lý về chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thời chúa Nguyễn (Đỗ Bang); Khảo cứu chủ quyền biển đảo Việt Nam dưới triều Nguyễn (1802-1885) qua Đại Nam thực lục (Lê Thị Hoài Thanh); Các di tích lịch sử, văn hóa ở Lý Sơn - minh chứng thực địa sinh động về chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (Trương Minh Dục); Tài liệu Trung Quốc viết về Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông: Một cái nhìn tổng quan (Đỗ Tiến Sâm); Thành phố Đà Nẵng với các mô hình quản lý hành chính quần đảo Hoàng Sa (Bùi Văn Tiếng)…

Về cơ sở pháp lý: Cuốn sách làm rõ Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu hòa bình, công khai, không bị tranh chấp về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.Qua các giai đoạn lịch sử, Nhà nước Việt Nam đã quản lý liên tục và thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Các nước và tổ chức quốc tế đã thừa nhận, công nhận về chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa                                                                                                 

Xoay quanh nội dung này có các bài viết: Vấn đề chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam qua báo chí quốc tế nửa đầu thế kỷ XX (Nguyễn Quang Trung Tiến); Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa qua nhận định của một số tác giả nước ngoài (Thái Quang Trung, Nguyễn Thế Dan, Vătăman); Danh nghĩa chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa nhìn qua điều 2 Hòa ước San Francisco 1951 (Trương Nhân Tuấn); Cơ sở pháp lý về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam giai đoạn 1954-1975 (Lưu Anh Rô); Cơ sở pháp lý quốc tế về xác lập chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (Nguyễn Thanh Minh); Bàn thêm về nguyên tắc chiếm hữu thực sự và chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (Nguyễn Bá Diến, Nguyễn Bá Hùng Cường)…

4. Đánh giá bạn đọc

Đối chiếu với quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của Nhà nước Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX và cho đến nay, sự xác lập chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là một sự thật lịch sử - pháp lý hiển nhiên, được thể hiện bằng các hành động thiết thực về sự quản lý, điều hành của các chính thể Nhà nước Việt Nam qua từng thời kỳ một cách nhất quán, công khai, liên tục, hòa bình, phù hợp với cơ sở luật pháp quốc tế đương thời.

Cuốn sách “Chủ quyền biển đảo Việt Nam - minh chứng lịch sử và cơ sở pháp lý” là công trình khoa học có chất lượng cao, cung cấp nhiều thông tin và tư liệu quan trọng phục vụ cho công tác nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục về chủ quyền biển, đảo  hiện nay.

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách "Chủ quyền biển đảo Việt Nam- minh chứng lịch sử và cơ sở pháp lý".

Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây những bằng chứng lịch sử không thể chối cãi chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa để bạn đọc tham khảo:

Các bằng chứng lịch sử mà Việt Nam đã thu thập được rất phong phú, mặc dù do hoàn cảnh chiến tranh liên tục nên nhiều thư tịch cổ của Việt Nam đã bị mất mát, thất lạc. Tuy nhiên, những tư liệu còn lại đến nay và chính sử vẫn đủ để khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Một là, các bản đồ Việt Nam thế kỷ XVII đã gọi hai quần đảo bằng cái tên Bãi Cát Vàng và ghi vào địa hạt huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi.

Hai là, nhiều tài liệu cổ của Việt Nam như Toàn Tập Thiên Nam Tứ chí Lộ Đồ Thư (thế kỷ XVII), Phủ Biên Tạp Lục (1776), Đại Nam Thực Lục Tiền Biên và Chính Biên (1844 - 1848), Đại Nam Nhất Thống Chí (1865-1875), các Châu bản nhà Nguyễn (1802-1945)... đều nói về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như là Bãi Cát Vàng vạn dặm trên Biển Đông và việc Nhà nước cử đội Hoàng Sa ra khai thác các quần đảo này.

Ba là, nhiều sách cổ, bản đồ cổ của nước ngoài cũng thể hiện các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Đỉnh cao nhất của việc tuyên bố và xác lập chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là vào năm 1816 khi vua Gia Long sai quân lính ra quần đảo Hoàng Sa cắm cờ Việt Nam và tuyên bố chủ quyền. Cũng cần nói thêm là trong một thời gian khá dài, người Việt Nam luôn coi quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là một dải đảo dài hàng vạn dặm trên Biển Đông, nên gọi là Vạn Lý Trường Sa, hay Đại Trường Sa, Bãi Cát Vàng...

Trên thực tế, các chúa Nguyễn cũng như nhà Nguyễn sau này đều có nhiều hành động liên tục cử người ra cai quản, khai thác các đảo trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhà nước phong kiến Việt Nam đã tổ chức các đội Hoàng Sa, Bắc Hải để thực thi quyền chủ quyền và khai thác hai quần đảo. Các thể lệ tuyển chọn người, chế độ khen thưởng, đãi ngộ đối với các đội đều được Nhà nước quy định rõ ràng. Các đội này được duy trì và hoạt động liên tục từ thời chúa Nguyễn (1558-1783) đến nhà Tây Sơn (1786-1802) và nhà Nguyễn. Triều đình Nhà Nguyễn đã cử các tướng Phạm Quang Ảnh (năm 1815), Trương Phúc Sĩ, Phạm Văn Nguyên, Phạm Hữu Nhật (các năm 1834, 1835, 1836) ra Hoàng Sa khảo sát, đo đạc các đảo, khảo sát, vẽ bản đồ, xây miếu, dựng bia.

Sau khi đô hộ Đông Dương, Pháp nhân danh Việt Nam tiếp tục quản lý hai quần đảo qua việc cử tàu chiến tuần tiễu để đảm bảo an ninh, ngăn chặn buôn lậu, cho phép người Nhật khai thác phân chim trên đảo, cử tàu De Lanessan ra nghiên cứu hải dương, địa chất, sinh vật... Từ năm 1930 đến 1932, các tàu chiến Inconstant, Alerte, La Malicieuse và De Lanessan của hải quân Pháp liên tiếp ra quần đảo Hoàng Sa. Đầu những năm 30 của thế kỷ 20, Pháp cho quân trú đóng ở các đảo chính thuộc quần đảo Trường Sa. Các hoạt động này đã được công bố trong Công báo của Cộng hòa Pháp ngày 26-7-1933. Năm 1933, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định quy thuộc quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa. Pháp cũng tách quần đảo Hoàng Sa ra khỏi tỉnh Nam Nghĩa và đặt vào tỉnh Thừa Thiên và cho một đơn vị đóng quân ở đó. Sau khi trở lại Đông Dương, Pháp đã yêu cầu quân Trung Hoa Dân Quốc rút khỏi các đảo mà họ đã chiếm đóng trái phép năm 1946 và Pháp đã cho quân thay thế quân Trung Quốc, xây dựng lại trạm khí tượng, đài vô tuyến.

Năm 1951, tại Hội nghị San Francisco (Hoa Kỳ) có một đề nghị bổ sung bản dự thảo Hòa ước yêu cầu trao trả cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng Hội nghị đã bác bỏ đề nghị này với số phiếu áp đảo là 46 phiếu thuận, 3 phiếu chống và 1 phiếu trắng. Tại Hội nghị, Ngoại trưởng Trần Văn Hữu dẫn đầu phái đoàn Chính phủ Quốc gia Việt Nam đã tuyên bố khẳng định chủ quyền lâu đời của người Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không gặp sự phản đối hay bảo lưu của nước nào.

Năm 1956 Pháp chuyển giao lãnh thổ miền Nam Việt Nam cho Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và chính quyền này đã cho quân ra tiếp quản, tổ chức hai quần đảo về mặt hành chính (lập ở mỗi quần đảo một xã thuộc một huyện ở đất liền), xây các bia chủ quyền, duy trì các trạm khí tượng. Từ những năm 50 của thế kỷ 20 tình hình hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trở nên phức tạp hơn. Lợi dụng tình hình rối ren khi Pháp rút khỏi Đông Dương theo Hiệp định Genève năm 1954, Trung Quốc đã bí mật chiếm đóng trái phép nhóm đảo phía đông của quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956. Chính quyền VNCH đã kịch liệt phản đối. Năm 1959 quân Trung Quốc giả làm ngư dân đổ bộ lên nhóm đảo phía tây quần đảo Hoàng Sa. Quân đội VNCH đã phát hiện ngăn chặn và bắt giữ 82 "ngư dân” Trung Quốc.

Đối với nhóm đảo phía tây của quần đảo Hoàng Sa, chính quyền VNCH tiếp tục quản lý cho đến năm 1974. Năm 1974, Trung Quốc dùng không quân, hải quân chiếm luôn phần phía tây của quần đảo Hoàng Sa. Chính quyền VNCH đã kịch liệt phản đối hành động xâm lược này của Trung Quốc. Năm 1975, chính quyền VNCH sụp đổ, Hải quân Việt Nam tiếp quản đầy đủ các đảo do quân đội VNCH cai quản trên Biển Đông. Nhà nước Việt Nam thống nhất sau đó tiếp tục khẳng định chủ quyền của người Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ban hành nhiều văn bản hành chính nhà nước thành lập các huyện đảo Hoàng Sa và huyện đảo Trường Sa cũng như hoàn thiện việc quản lý hành chính trên các quần đảo này. Một sự thật hiển nhiên là cho đến năm 1988 chưa hề có bất kỳ sự hiện diện nào của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa. Ngày 14-3-1988, Trung Quân bắt đầu dùng vũ lực chiếm đóng trái phép một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế, Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền lâu đời và liên tục của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.