1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách chuyên khảo "Bảo đảm quyền con người trong pháp luật lao động Việt Nam" (Trong khuôn khổ Dự án Luật về quyền con người) do tác giả: PGS.TS. Lê Thị Hoài Thu làm chủ biên cùng sự tham gia biên soạn của tập thể tác giả gồm: PGS. TS. Phạm Công Trứ, TS. Trần Thị Thúy Lâm, TS. Trần Thị Thúy Nga, TS. Nguyễn Xuân Thu.

 

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Bảo đảm quyền con người trong pháp luật lao động Việt Nam

Bảo đảm quyền con người trong pháp luật lao động Việt Nam

Tác giả: PGS.TS. Lê Thị Hoài Thu làm chủ biên

Nhà xuất bản: Đại học Quốc gia Hà Nội

 

3. Tổng quan nội dung sách

Quyền con người và bảo đảm thực thi quyền con người trên thực tế luôn là chủ đề thu hút được sự quan tâm của nhiều giới trong xã hội. Trong lĩnh vực lao động, quyền con người, nhất là quyền con người của người lao động, lại càng thu hút được sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước và xã hội, bởi trong quan hệ lao động, người lao động ở vị trí yếu thế hơn so với người sử dụng lao động, và là người phải thực hiện các nghĩa vụ lao động nên thường phải đối mặt với các rủi ro dẫn đến quyền con người của họ rất dễ bị xâm phạm. Trong khi đó người lao động lại là lực lượng xã hội quan trọng, quyết định sự phát triển kinh tế, ổn định xã hội của đất nước.

Chính vì vậy, một loạt vấn đề đặt ra có liên quan trực tiếp đến việc tôn trọng và đảm bảo thực thi quyền con người trong lĩnh vực lao động cần được giải quyết một cách hợp lý, như: bảo đảm quyền tự do việc làm của người lao động; bảo đảm quyền tự do tuyển dụng và quản lý lao động của người sử dụng lao động; bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần của người lao động, bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự và nhân cách của người lao động; bảo đảm quyền tự do lập hội của người lao động; bảo đảm quyền bình đẳng của người lao động di trú, bảo đảm quyền được xét xử công khai, công bằng các tranh chấp lao động… Nền tảng quan trọng để bảo đảm và thực thi các quyền trên chính là hệ thống pháp luật lao động của Nhà nước. Pháp luật lao động của Nhà nước là một mặt quy định các quyền của người lao động, người sử dụng lao động, trong từng lĩnh vực, mặt khác quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan trong việc tôn trọng và bảo đảm các quyền của họ, đồng thời quy định các biện pháp nhằm bảo đảm thực thi các quyền này trên thực tế. Nhìn nhận, đánh giá để chỉ ra những thành tựu cũng như những bất cập, hạn chế của hệ thống pháp luật hiện hành trong việc bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực lao động để từ đó tìm ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hơn nữa việc bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực lao động luôn là vấn đề quan trọng cần được nghiên cứu ở các góc độ và mức độ khác nhau. Đây chính là lý do để nhóm tác giả tập trung nghiên cứu và viết cuốn sách chuyên khảo này.

Cuốn sách được biên soạn gồm 10 chương như sau:

Chương I: Quyền của người lao động trong các văn kiện pháp lý quốc tế: Một bộ phận cấu thành hệ thống các quyền con người.

Chương II: Tổng quan việc bảo đảm quyền con người trong pháp luật lao động ở Việt Nam.

Chương III: Bảo đảm quyền tự do việc làm của người lao động trong pháp luật lao động Việt Nam.

Chương IV: Quyền được bảo đảm thu nhập và đời sống của người lao động trong pháp luật lao động Việt Nam.

Chương V: Quyền được tôn trọng và bảo đảm an toàn sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, danh dự, nhân cách của người lao động trong pháp luật lao động Việt Nam.

Chương VI: Bảo đảm quyền tự do công đoàn của người lao động trong pháp luật Việt Nam.

Chương VII: Bảo đảm quyền của người lao động di trú trong pháp luật lao động Việt Nam.

Chương VIII: Xét xử công khai, công bằng các tranh chấp lao động và bảo đảm quyền đình công của người lao động nhằm bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực lao động.

Chương IX: Bảo đảm quyền quản lý của người sử dụng lao động trong pháp luật lao động Việt Nam.

Chương X: Các biện pháp bảo đảm quyền con người trong pháp luật lao động Việt Nam.

 

4. Đánh giá bạn đọc

Cuốn sách "Bảo đảm quyền con người trong pháp luật lao động Việt Nam" được biên soạn giới thiệu tới bạn đọc một số vấn đề về quyền của người lao động trong các văn kiện pháp lý quốc tế. Nghiên cứu pháp luật lao động Việt Nam về bảo đảm quyền con người liên quan đến: bảo đảm quyền tự do việc làm; quyền được bảo đảm thu nhập, đời sống; quyền được tôn trọng, bảo đảm an toàn sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, danh dự, nhân cách của người lao động; quyền tự do công đoàn, quyền của người lao động di trú,...

Pháp luật lao động Việt Nam ngày càng tiệm cận với pháp luật quốc tế ở nhiều khía cạnh, trong đó có nội dung bảo đảm quyền con người. Cuốn sách là tài liệu tham khảo không chỉ có giá trị về mặt khoa học pháp lý đối với bạn đọc mà còn có giá trị thực tiễn.

Cho đến nay, với sự ra đời và có hiệu lực thi hành của Bộ luật lao động năm 2019, quyền của người lao động ngày càng được bảo đảm hơn bằng pháp luật và cả trên thực tiễn thi hành.

 

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Bảo đảm quyền con người trong pháp luật lao động Việt Nam".

Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây nội dung về quyền tự do làm việc theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam để bạn đọc tham khảo thêm:

Quyền tự do làm việc theo pháp luật quốc tế

Trong pháp luật quốc tế về quyền con người, hai công ước chủ chốt: Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) và Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) chứa đựng những nội dung cơ bản, bao trùm về quyền con người trong lĩnh vực lao động, việc làm.
ICESCR có nhiều nội dung liên quan trực tiếp đến quyền lao động. Trong đó, Điều 6 ICESCR quy định: Các quốc gia thành viên Công ước này thừa nhận quyền làm việc, trong đó bao gồm quyền của tất cả mọi người có cơ hội kiếm sống bằng công việc do họ tự do lựa chọn hoặc chấp nhận, các quốc gia phải thi hành các biện pháp thích hợp để bảo đảm quyền này. ICESCR yêu cầu các quốc gia thành viên phải tiến hành các biện pháp để thực hiện đầy đủ quyền này, bao gồm triển khai các chương trình đào tạo kỹ thuật và hướng nghiệp, các chính sách và biện pháp kỹ thuật nhằm đạt tới sự phát triển vững chắc về kinh tế, xã hội và văn hoá, tạo công ăn việc làm đầy đủ và hữu ích với điều kiện bảo đảm các quyền tự do cơ bản về chính trị và kinh tế của từng cá nhân.

Quyền tự do làm việc trong pháp luật Việt Nam

Cùng với quá trình hội nhập quốc tế và tăng cường hợp tác quốc tế về quyền con người, Việt Nam đã tham gia phê chuẩn 21/189 công ước của ILO liên quan đến việc bảo đảm quyền của người lao động. Đây là mức độ cam kết rất cao, thể hiện nỗ lực rất lớn của Việt Nam trong điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn. Quyền có việc làm và được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng thù lao công bằng, hợp lý là một nhóm quyền cơ bản liên quan đến lĩnh vực lao động, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, được bảo đảm điều kiện lao động hợp lý, được trả thù lao hợp lý, được đình công, quyền được nghỉ ngơi…

Từ Hiến pháp đến các đạo luật liên quan đến lao động như Bộ luật Dân sự và Bộ luật Lao động, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại... đều quy định về quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm của người lao động. 
Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam khẳng định công dân có quyền làm việc, được tự do lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc. Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi. (Khoản 1, 2 Điều 35). Có thể nói, quy định mới trong Hiến pháp 2013 đã đề cao quyền tự do lựa chọn việc làm, nơi làm việc. Đây là một trong những quyền con người quan trọng nhất trong lĩnh vực lao động.

Giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội làm việc là trách nhiệm của nhà nước, của các doanh nghiệp và của toàn xã hội. Trên tinh thần đó, Điều 57, Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tạo việc làm cho người lao động. Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động, sử dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.

Để tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho việc thực hiện quyền được lao động của người dân, Bộ luật Lao động năm 2019 quy định người lao động: "1. Được tự do lựa chọn việc làm, làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm. 2. Trực tiếp liên hệ với người sử dụng lao động hoặc thông qua tổ chức dịch vụ việc làm để tìm kiếm việc làm theo nguyện vọng, khả năng, trình độ nghề nghiệp và sức khỏe của mình." Đồng thời, Bộ luật Lao động cũng là công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của người lao động; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được hài hoà và ổn định.

Bộ luật Lao động cũng nêu rõ chính sách của Nhà nước là: Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, người làm việc không có quan hệ lao động; khuyến khích những thỏa thuận bảo đảm cho người lao động có điều kiện thuận lợi hơn so với quy định của pháp luật về lao động;Tạo điều kiện thuận lợi đối với hoạt động tạo việc làm, tự tạo việc làm, dạy nghề và học nghề để có việc làm; hoạt động sản xuất, kinh doanh thu hút nhiều lao động; áp dụng một số quy định của Bộ luật này đối với người làm việc không có quan hệ lao động; Có chính sách phát triển, phân bố nguồn nhân lực; nâng cao năng suất lao động; đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho người lao động; hỗ trợ duy trì, chuyển đổi nghề nghiệp, việc làm cho người lao động; ưu đãi đối với người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao đáp ứng yêu cầu của cách mạng công nghiệp, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Có chính sách phát triển thị trường lao động, đa dạng các hình thức kết nối cung, cầu lao động; Thúc đẩy người lao động và người sử dụng lao động đối thoại, thương lượng tập thể, xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định và bảo đảm bình đẳng giới; quy định chế độ lao động và chính sách xã hội nhằm bảo vệ lao động nữ, lao động là người khuyết tật, người lao động cao tuổi, lao động chưa thành niên.