Nhằm góp phần phổ biến những căn cứ pháp lý, những minh chứng lịch sử chứng minh sáng rõ chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, Luật Minh Khuê trân trọng giới thiệu tới bạn đọc nội dung cuốn sách "Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông" do TS. Trần Công Trực làm chủ biên.
1. Giới thiệu tác giả
Cuốn sách "Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông" do TS. Trần Công Trực làm chủ biên.
TS Trần Công Trục, nguyên Trưởng Ban Biên giới Chính phủ cũng là người đầu tiên ở Châu Á dịch Công ước Luật Biển 1982 của Liên hợp quốc. Ông đã xuất bản nhiều cuốn sách, tài liệu liên quan đến chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông. Trong đó có những cuốn đáng chú ý như: Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông, 100 câu hỏi về Biển Đông, Kỷ yếu Hoàng Sa…
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông
Tác giả: TS. Trần Công Trực (chủ biên)
Nhà xuất bản Thông Tin và Truyền thông
3. Tổng quan nội dung sách
Cuốn sách "Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông" với 4 chương là một kho thông tin và kiến thức vô cùng phong phú được trình bày một cách có hệ thống về lĩnh vực biên giới lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Vì vậy, nó giúp cho người đọc có được cái nhìn tổng quan hơn, đầy đủ hơn so với nhiều cuốn chỉ bàn về những vấn đề riêng lẻ như biên giới trên bộ, các vấn đề về vùng biển và thềm lục địa, hoặc chỉ riêng về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa…
Chương 1: Vị trí, vai trò của biển đảo Việt Nam trong biển Đông
Chương 2: Việc xác lập các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam
Chương 3: Quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa
Chương 4: Tranh chấp biển Đông: Thực trạng và giải pháp
Chương 1 giới thiệu một cách chính xác, khoa học hệ thống vị trí và vai trò của biển, đảo Việt Nam đối với nền kinh tế, quốc phòng, an ninh của đất nước.
Chương 2 đưa ra các cơ sở pháp lý vững chắc để xác định các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, đặc biệt là phạm vi vùng đặc quyền kinh tế, khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền cũng như quyền tài phán của Việt Nam trong phạm vi lãnh hải, thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế theo công ước quốc tế.
Việt Nam đã tích cực tham gia đóng góp vào tiến trình và kết quả pháp điển hóa Luật Biển quốc tế mới tại Hội nghị Luật Biển của Liên Hợp Quốc lần thứ 3; đồng thời cũng từng bước ban hành các biện pháp nhằm quản lý các vùng biển và thềm lục địa của đất nước. Ngoài ra, chương này cũng nêu rõ phạm vi và quy chế pháp lý của các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam.
Trong chương 3, cuốn sách đã lược lại cụ thể quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa từ thời chúa Nguyễn, thời Tây Sơn đến thời chống Pháp, chống Mỹ, xây dựng và đổi mới, hội nhập đất nước. Từ đó, khẳng định rằng, Nhà nước Việt Nam là nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền của mình tại quần đảo Hoàng Sa, ít nhất từ thế kỷ XVII. Việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền này là thực sự liên tục, hòa bình, phù hợp với nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế. Ở đây tác giả đã mô tả lại cụ thể quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa từ thời chúa Nguyễn, thời Tây Sơn đến thời chống Pháp, chống Mỹ và cho đến tận hôm nay.
Ở chương cuối cùng, các tác giả đã nêu thực trạng và những giải pháp xung quanh vấn đề tranh chấp Biển Đông.
Ngoài ra, còn có phần phụ lục, tập hợp các bài nghiên cứu về Biển Đông, trong đó có loạt bài đoạt giải A Giải Báo chí Quốc gia năm 2011: “Chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa nhìn từ công pháp quốc tế” của nhóm phóng viên Lê Phúc, Lê Bình, Thu Lan, Thùy Vân, Hệ Thời sự - Chính trị - Tổng hợp (VOV1), Đài Tiếng nói Việt Nam.
Để thực hiện được cuốn sách quý này, TS Trần Công Trục đã bỏ rất nhiều thời gian, công sức để sưu tầm, nghiên cứu, kiểm chứng và đánh giá qua rất nhiều nguồn tư liệu khác nhau. Trong đó có nguồn tư liệu rất quý mà ông là người đầu tiên cất công sang tận Pháp để sưu tầm trong những năm công tác tại Ban Biên giới Chính phủ.
Bằng sự nghiên cứu công phu, bài bản dựa trên những bằng chứng lịch sử có tính pháp lý cao, tác giả đã khẳng định rằng, Nhà nước Việt Nam là nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền của mình tại quần đảo Hoàng Sa, ít nhất từ thế kỷ XVII. Việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền này là thực sự liên tục, hòa bình, phù hợp với nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế.
4. Đánh giá bạn đọc
Nội dung cuốn sách giới thiệu vị trí và vai trò của biển, đảo Việt Nam trong Biển Đông; việc xác lập các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam; quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa; tranh chấp Biển Đông: Thực trạng và giải pháp. Ngoài ra còn có phần phụ lục: Các văn bản chính thức của nhà nước Việt Nam về các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam; Các bài nghiên cứu về Biển Đông của các nhà khoa học.
Cuốn sách là tư liệu quý báu nhằm phục vụ cho công tác tuyên truyền, nghiên cứu, học tập, qua đó để mỗi người dân Việt Nam ý thức rõ được công lao, mồ hôi, xương máu của các thế hệ đã xác lập, bảo vệ chủ quyền Việt Nam đối với các vùng biển và hải đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Được xuất bản đúng thời điểm Luật Biển Việt Nam vừa được Quốc hội thông qua, cuốn sách góp phần tuyên truyền sâu rộng những thông tin chính xác đến với mọi tầng lớp nhân dân; đồng thời khẳng định những quan điểm đúng đắn, khách quan của Nhà nước Việt Nam đối với các vấn đề tranh chấp, trong quyết tâm bảo vệ chủ quyền, các quyền, lợi ích chính đáng của mình trên Biển Đông và trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của Nhà nước Việt Nam trước cộng đồng khu vực và quốc tế.
5. Kết luận
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông".
Luật Minh Khuê trích dẫn dưới đây một số cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thời thuộc Pháp để bạn đọc tham khảo:
Từ khi ký với Triều đình nhà Nguyễn, Hiệp ước 06-6-1884, Pháp đại diện quyền lợi của Việt Nam trong quan hệ đối ngoại và việc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Liên quan đến biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc, Pháp đã ký với nhà Thanh bản Hiệp ước năm 1887. Đến năm 1895, Pháp lại ký tiếp với nhà Thanh bản Hiệp ước bổ sung. Trong khuôn khổ sự cam kết chung đó, Pháp tiếp tục thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sau đây là một vài bằng chứng:
- Các pháo hạm của Pháp thường xuyên tiến hành tuần tiễn trong vùng biển Đông, kể cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Năm 1899, toàn quyền Đông Dương là Paul Doumer đề nghị với Paris xây tại đảo Hoàng Sa thuộc quần đảo Hoàng Sa một cây đèn biển để hướng dẫn các tàu biển qua lại vùng này, nhưng kế hoạch đó không thực hiện được vì thiếu ngân sách. Năm 1920 các tàu hải quan Đông Dương tăng cường tuần tiễn ở vùng Hoàng Sa để ngăn chặn buôn lậu
- Năm 1925, Viện Hải Dương học Nha Trang cử tàu De Lanessan ra khảo sát ở quần đảo Hoàng Sa về hải dương học…
- Cũng năm 1925, ngày 3-3, Thượng thư Bộ Binh của triều đình Huế Thân Trọng Huề lại khẳng định Hoàng Sa là lãnh thổ Việt Nam.
- Năm 1927, tàu De Lanessan ra khảo sát khoa học quần đảo Trường Sa.
- Năm 1929, phái đoàn Perrier - De Rouville đề nghị đặt 4 cây đèn biển ở 4 góc của quần đảo Hoàng Sa (Đảo Tri Tôn, đảo Đá Bắc, đảo Linh Côn, bãi Bom Bay).
- Năm 1930, tàu thông báo La Malicieuse tới quần đảo Hoàng Sa.
- Tháng 3-1931, tàu Inconstantra ra quần đảo Hoàng Sa.
- Tháng 6-1931, tàu De Lanessan ra quần đảo Hoàng Sa.
- Tháng 5-1932, pháo hạm Alerte ra quần đảo Hoàng Sa.
- Từ ngày 13-4-1930 đến ngày 12-4-1933, chính phủ Pháp đã cử các đơn vị hải quân lần lượt ra đóng ở các đảo chính trong quần đảo Trường Sa: Trường Sa (spratley), An Bang (Caye d’ Amboine), Itu Aba, nhóm Song Tử (Groupe de deux iles) (Tức đảo Song Tử Tây và đảo Song Tử Đông), đảo Loại Ta và Thị Tứ.
- Ngày 21-12-1933, Thống đốc Nam Kỳ M j.Krautheimer ký Nghị định sáp nhập các đảo Trường Sa, An Bang, HuAba, nhóm Song Tử, Loại Ta và Thị Tứ vào địa phận tỉnh Bà Rịa (nay thuộc tỉnh Đồng Nai).
- Năm 1937, nhà đương cục Pháp cử kỹ sư công chính Gauthier ra quần đảo Hoàng Sa nghiên cứu chỗ xây dựng đèn biển, lập bãi Thủy Phi cơ.
- Tháng 2-1937, tuần dương hạm Lamotte Piquet do Phó Đô Đốc IStava chỉ huy thăm đảo Hoàng Sa.
- Ngày 29-3-1938, vua Bảo Đại ký dụ tách quần đảo Hoàng Sa ra khỏi địa hạt tỉnh Nam Nghĩa đặt vào tỉnh Thừa Thiên.
- Ngày 15-6-1938, toàn quyền Đông Dương Sules Brévié ký nghị định thành lập một đơn vị hành chính tại quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên.
- Năm 1938, Pháp dựng bia chủ quyền, xây dựng xong đèn biển, trạm khí tượng, đài vô tuyến điện ở đảo Hoàng Sa (Ile Pattle) trong quần đảo Hoàng Sa, xây dựng trạm khí tượng, đài vô tuyến điện ở đảo Itu Aba, trong quần đảo Trường Sa.
Hàng chữ trên bia: “Cộng hòa Pháp, Vương quốc An Nam, quần đảo Hoàng Sa, 1816- đảo Pattle - 1938 (Năm 1816 là năm vua Gia Long thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với các đảo Hoàng Sa, năm 1938 là năm dựng bia).
- Ngày 5-5-1939, toàn quyền Đông Dương jules Brévié ký nghị định sửa đổi nghị định ngày 15/6/1938 nói trên và thành lập tại quần đảo Hoàng Sa hai cơ quan đại lý “Croissant và các đảo phụ thuộc”, “Amphitrite và các đảo phụ thuộc”.
Tóm lại, suốt trong thời gian đại diện Việt Nam về mặt đối ngoại, Pháp luôn luôn khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và phản kháng những hành động xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo đó như: ngày 04/12/1931 và ngày 24/4/1932, Pháp phản kháng chính phủ Trung Quốc về việc chính quyền Quảng Đông lúc đó có ý định cho đấu thầu khai thác phân chim trên quần đảo Hoàng Sa. Ngày 24/7/1933, Pháp thông báo cho Nhật việc Pháp đưa quân ra đóng các đảo chính trong quần đảo Trường Sa. Ngày 04/4/1939, Pháp đã phản kháng Nhật đặt một số đảo trong quần đảo Trường Sa thuộc quyền tài phán của Nhật.