1. Giới thiệu tác giả
Cuốn sách "Lịch sử lập hiến cách mạng Việt Nam" được biên soạn bởi TS.LS. Phan Đăng Thanh và ThS.LS. Trương Thị Hòa.
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Lịch sử lập hiến cách mạng Việt Nam
Tác giả: Phan Đăng Thanh - Trương Thị Hòa
Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
3. Tổng quan nội dung sách
Công cuộc lập hiến ở Việt nam bắt đầu tư thế kỷ XX với sự vận động của các phong trào yêu nước đấu tranh giành độc lập, đòi dân quyền, mong có một chế độ dân chủ, tiến bộ và bộ máy cầm quyền tận tụy phục vụ nhân dân. Tất cả không ngoài yêu sách đòi chính quyền thực dân, phong kiến xây dựng Hiến pháp cho nước Việt Nam.
Đến khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời vào ngày 9/11/1946. Đó là một bản Hiến pháp tiến bộ ở Đông Nam Á lúc bấy giờ. Nước Việt Nam chuyển mình tư ba xứ thuộc địa bảo hộ, quân chủ phong kiến, trở thành một quốc gia độc lập, dưới chính thể cộng hòa,
Từ đó đến nay, Nhà nước cách mạng Việt Nam - Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, dưới sự lãnh đạo cảu chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam đã xây dựng 5 bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992 và 2013). Các Hiến pháp kế thừa nhau và phát triển liên tục trong từng giai đoạn lịch sử của cách mạng, tiến theo con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Nhằm mục đích cung cấp tài liệu tham khảo cho bạn đọc trong học tập, tìm hiểu Hiến pháp Việt Nam một cách có hệ thống, đầy đủ, TS. LS. Phan Đăng Thanh và ThS.LS. Trương Thị Hòa đã biên soạn cuốn sách "Lịch sử lập hiến cách mạng Việt Nam". Cuốn sách được Nhà xuất bản tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 2014.
Nội dung cuốn sách được biên soạn với cấu trúc chương mục như sau:
Chương 1. Tư tưởng lập hiến Việt Nam trước cách mạng tháng tám năm 1945
Mục 1. Các phong trào quốc gia, dân tộc đấu tranh lập hiến, giành độc lập
Mục 2. Phong trào cộng sản đấu tranh giành độc lập, sự truyền bá tư tưởng lập hiến macsxit ở Việt Nam
Mục 3. Quan điểm lập hiến của các nhân vật, tổ chức hợp tác hoặc nằm trong bộ máy cầm quyền thân Pháp, thân Nhật
Mục 4. Các luồng tư tưởng lập hiến ban đầu không ngừng đấu tranh quyết liệt với nhau
Chương 2. Thực tiễn lập hiến cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ
Mục 1. Lý luận Mác - Lê nin và thực tiễn lập hiến ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây
Mục 2. Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946
Mục 3. Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1959
Mục 4. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980
Mục 5. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
Mục 6. Hiến pháo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được sửa đổi, bổ sung năm 2001
Mục 7. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
Phụ lục toàn văn các Hiến pháp qua từng thời kỳ
4. Đánh giá bạn đọc
Các bản hiến pháp của Việt Nam đều ra đời trong những hoàn cảnh thời điểm lịch sử nhất định nhằm thể chế hóa quan điểm, đường lối, chủ trương cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam cho từng giai đọan phát triển của đất nước.
Hiến pháp là văn bản pháp luật có gái trị pháp lý đặc biệt quan trọng, là đạo luật cơ bản, luật gốc của Nhà nước làm căn cứ ban hành các văn bản pháp luật trong hệ thống pháp luật, thể hiện rõ nét bản chất dân chủ, tiến bộ của nhà nước. Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ luôn xác định những vấn đề cơ bản nhất, quan trong nhất của Nhà nước và xã hội, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
Tìm hiểu lịch sử lập hiến Việt Nam sẽ giúp bạn đọc hiểu sâu sắc hơn về chủ trương đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước qua các thời kỳ, hiểu thêm những tư tưởng lập hiến chi phối xuất phát từ thực tiễn xã hội.
Cuốn sách "Lịch sử lập hiến cách mạng Việt Nam" đã khái lược toàn bộ tư tưởng lập hiến, quá trình lập hiến của 5 bản Hiến pháp của Việt Nam.
Các tác giả vừa là những luật sư vừa là nhà sử học và vừa là những người có nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu, giảng dạy nội dung cuốn sách được biên soạn khoa học, theo mạch lịch sử thuận tiện cho bạn đọc tham khảo. Cùng với đó, nội dung cuốn sách cũng trích dẫn đầy đủ toàn văn 5 bản Hiến pháp Việt Nam để bạn đọc có thể nghiên cứu, tìm hiểu và đối chiếu thêm.
5. Kết luận
Cuốn sách "Lịch sử lập hiến cách mạng Việt Nam" là tài liệu tham khảo có giá trị, phục vụ bạn đọc quan tâm, nghiên cứu về lịch sử lập hiến ở Việt Nam cũng như tư tưởng lập hiến của Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử.
Trên đây là chia sẻ tổng quan của chúng tôi về cuốn sách "Lịch sử lập hiến cách mạng Việt Nam". Hy vọng những thông tin này sẽ hữu ích đối với bạn đọc.
Chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật và giới thiệu những cuốn sách luật hay và bổ ích trong chuyên mục "Sách luật" trong thời gian tới. Rất mong nhận được sự ủng hộ và theo dõi của bạn đọc.
Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách "Lịch sử lập hiến cách mạng Việt Nam".
Giới thiệu tư tưởng lập hiến của Phân Bộ Châu và Phan Châu Trinh
Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh là những người đứng trong hàng ngũ sĩ phu yêu nước tiêu biểu cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Phan Bội Châu
Phan Bội Châu, chủ xướng phong trào Đông Du , đề cao gương duy tân của Nhật Bản: "Lập hiến pháo từ đầu Minh trị; Bốn mươi năm dân trí mở mang".
Xét về mặt lịch sử, Phan Bội Châu là người đầu tiên nêu vấn đề lập hiến và coi đó là yêu cầu bức xúc ở nước ta (vào năm 1907), ông nói: "Tôi v ẫn đã rắp trong bụng một bản hiến pháp rồi. Hiến pháp của tôi là chăm chước theo Hiến pháp của các nước quan chủ như nước Anh, nước Nhật, theo Hiến pháp của các nước Mỹ, nước Đức, nước Nga. Lại phải tùy theo cái trình độ dân ta mà lựa chọn lấy những điều thích hợp, thới mới có thể gọi là hoàn thiện được".
Trong tư tưởng lập hiến, Phan Bội Châu đề cao nhan dân, dân quyền. Bởi "Dân quyền mà được đề can thì nhân dân được tôn trọng, nhà nước cũng mạnh. Dân quyền bị coi nhẹ, thì dân bị coi khinh, mà nước yếu".
Một quan điểm lớn trong tư tưởng lập hiến của Phan Bội Châu là củng cố nhà nước cộng hòa, dân chủ, độc lập, bảo đảm chủ quyền quốc gia. "GIữa đô thành nước ta đặt một tòa nghị viện lớn. Bao nhiêu việc chính trị đều do công chúng quyết định..... Những tệ quan hư không hợp công đạo, thì khi hội nghị trong nghị viên, dân ta hội nhau công nghị, được có quyền khiển trách, trừng phạt. Đến khi ấy, trên quan dưới lại, ai mà hại dân, thì không được sống ở trong trời đất nữa". Để bảo đảm dân chủ, theo tư tưởng Phan Bội Châu, nghị viện của nhân dân có nhiều viện; có sự phân công rõ ràng giữa nghị viện là cơ quan đại biểu và chính phủ là cơ quan hành pháp, hành chính. "Những điều nhân dân cho là phải, chính phủ không thể không làm; những điều nhan dân cho là trái, chính phủ không được làm".
Về mặt chính trị nói chung, tuy có cảm tình với chủ nghĩa xã hội song Phan Bội Châu vẫn khẳng định " Trong nhà tôi có treo bóng Leenin. Những sách nói về chủ nghĩa xã hội tôi đã có đọc nhiều, đã nghiên cứu rất kỹ, tôi vẫn công nhận rằng những lý thuyết ấy rất chính đáng, nhưng chưa có thể thực hành ở xứ này được". Bởi theo ông, "ở nước này chưa có sự phân chia rõ ràng của hai giai cấp tư bản và lao động".
Phan Châu Trinh
Phan Châu Trinh là nhà ái quốc lớn, đồng thời với Phan Bội Châu với chuỗi ngày tranh đấu cách mạng không ngừng nghỉ. Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam, quan điểm của Phan Châu Trinh trước mắt chưa nên đặt nhiệm vụ khôi phục chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc, mà nhiệm vụ cấp bách là phải "khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh". "Khai dân trí" là bỏ lối học tầm chương trích cú, mở trường dạy chữ quốc ngữ, kiến thức khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục, xa hoa. "Chấn dân khí" là thức tỉnh tinh thần tự lực, tự cường, mọi người giác ngộ được quyền lợi của mình, giải thoát được nọc độc chuyên chế. "Hậu dân sinh" là phát triển kinh tế, cho dân khai hoang làm vườn, sản xuất hàng nội hóa....
Trong tư tưởng cách mạng dân chủ của ông, Phan Châu Trinh thường đề cao Hiến pháp, coi đó là công cụ pháp lý để hạn chế quân quyền độc tôn và hà lạm. Ông nói: "Lấy theo ý riêng một người hay một triều đình mà trị một nước thì cái nước ấy không khác gì một đàn chiên, được no ấm vui vẻ hay là đói lạnh khổ sở, là tùy theo long rộng hay hẹp của người chăn chiên. Còn như theo cái chủ nghĩa dân trị thì tự quốc dân lập ra hiến pháp, luật lệ, đặt ra các cơ quan để lo việc chung cho mọi người.
Phan Châu Trinh kịch liệt phản đối chế độ quân chủ mà ông gọi là "quân trị" và đòi thực hiện chế độ công hòa tư sản, một lòng đi theo con đường dân chủ tư sản. "Chủ nghĩa của tiên sinh là đánh đổ chuyên chế, là dân quyền tự do".
Theo quan điểm của Phan Châu Trinh, mô hình nhà nước lý tưởng là theo cách thức tổ chức nhà nước của các nước phát triển ở châu Âu lúc bấy giờ (như Anh, Pháp...). Đại thể, nhà nước ấy được tổ chức và điều hành theo nguyên tắc cơ bản là "tam quyền phân lập", với cơ chế ba quyền độc lập với nhau: lập pháp giao cho nghị viện; hành pháp đứng đầu là tổng thống do nghị viện bầu ra; và tư pháp giao cho các cơ quan tòa án, xét xử độc lập đối với hai ngành kia.
Ngoài ra, trong có chế phân chia quyền lực ấy, ông lưu ý vai trò của các đảng phái chính trị. Theo ông, chế độ nhiều đảng là cần thiết để bảo đảm dân chủ. Đảng đa số trong nghị viện làm hậu thuẫn cho chính phủ; đồng thời thường xuyên có sự đối lập của đảng thiểu số. Nhờ đó tránh được những sai lầm. Còn "chính ohur thì cũng bởi do hai viện mà ra. Nhưng mà phải giao quyền cho cái đảng nào chiếm số nhiều trong hai viện ấy thì mới được tổ chức Quốc vụ viện". Theo Phan Châu Trinh, chế độ đa đảng sẽ khắc phục được nạn độc tài: "Nếu cái gì mà làm không bằng lòng dân thế nào cũng có người chỉ trích, Bởi vì ở trong hạ nghị viện thế nào cũng có hai đảng, một đảng tả, một đảng hữu, nếu cái đảng tả chiếm số nhiều mà cầm quyền trong nước, thì đảng hữu nó xem xét, chỉ trích, cho nên muốn làm bậy cũng khó lắm".
Về vai trò của pháp luật trong một nước, theo Phan Châu Trinh, chế độ dân chủ pháp trị được xây dựng trên một nền pháp luật hoàn chỉnh, ổn định.