1. Giới thiệu tác giả PGS.TS. Lê Thị Thu Thủy

Cuốn sách "Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới" do PGS.TS. Lê Thị Thu Thủy (chủ biên).

 

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới

Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới

Tác giả: PGS.TS. Lê Thị Thu Thủy (chủ biên)

Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội

 

3. Tổng quan nội dung sách

Hệ thống ngân hàng ở mỗi quốc gia trên thế giới đều có vai trò rất quan trọng trong việc kiềm chế lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền, tạo sự luân chuyển nguồn vốn nhịp nhàng trong nền kinh tế. Sự tác động của thị trường ngân hàng đối với nền kinh tế tạo ra những “cú hích” tăng trưởng, những đột phá trong kinh doanh, đầu tư và tạo lợi nhuận cho mọi chủ thể của nền kinh tế. Tuy nhiên, với sự hiện diện của các quy luật vốn có của nền kinh tế thị trường, các tổ chức tín dụng khó có thể đứng vững được trên thương trường nếu không có hoạt động giám sát hiện quả và “bàn tay khéo léo” điều tiết của nhà nước. Mặc dù không chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu khời nguồn từ việc cho vay dưới chuẩn nhà đất của Mỹ vào năm 2007 nhưng thị trường ngân hàng Việt Nam vẫn là thị trường rất đặc thù về quy mô, về chủ thể tham gia thị trường, về năng lực cạnh tranh. Với sự gia nhập WTO của Việt Nam và cho phép thành lập những thị trường ngân hàng 100% vốn nước ngoài từ năm 2007 thì thị trường ngân hàng Việt Nam trở nên phức tạp hơn, thách thức đối với thị trường là không nhỏ.

Có thể thấy rằng, cho đến thời điểm hiện nay, nhà nước Việt Nam đã ban hành rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng như: các quy định về thế chấp, cầm cố, bảo lãnh trên các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, các quy định về các biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ, quy định về mua bán nợ của tổ chức tín dụng…Các quy định trên liên quan trực tiếp đến hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng cũng như đối với khách hàng vay vốn, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng, cá nhân, doanh nghiệp trong các giao dịch dân sự, kinh doanh và thương mại cũng như trong hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, bên cạnh nhưng ưu điểm nêu trên, trong nội dung của các văn bản pháp luật này có nhiều vấn để không còn phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam và thông lệ quốc tế và việc áp dụng các quy định về biện pháp hạn chế rủi ro còn có điểm chưa thống nhất, gây lúng túng cho các cơ quan, người thực hiện, kể cả chủ thể áp dụng pháp luật. Đặc biệt, vấn đề áp dụng các biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng như mua bán nợ của tổ chức tín dụng, xử lý tải sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp này, về các hạn chế cho vay, cấm cho vay của tổ chức tín dụng, về các tỷ lệ đảm bảo an toàn vốn tối thiểu cho ngân hàng…

Vì những lý do trên, việc tìm ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong cho vay của tổ chức tín dụng và nâng cao hiệu quả thực hiện các biện pháp này trên thực tế là một nhu cầu bức thiết. Từ thực tế đó, Cuốn sách “Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới” được biên soạn với mong muốn cuốn sách sẽ cung cấp những gợi ý hữu ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực này.

Cuốn sách được biên soạn với cấu trúc gồm 3 phần với kết cấu chương mục như sau:

Phần I: Những vấn đề lý luận về rủi ro và các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng

Chương I: Những vấn đề lý luận về rủi ro và rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng

Chương II: Bản chất, vai trò, mối quan hệ của các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng với vấn đề nợ xấu và phá sản ngân hàng

Phần II: Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Chương III: Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Hoa Kỳ, Anh và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Chương IV: Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Úc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Chương V: Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Liên bang Nga và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Chương VI: Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Nhật Bản và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Phần III: Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp

Chương VII: Pháp luật về tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Việt Nam

Chương VIII: Pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng tài sản trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Việt Nam nhằm hạn chế rủi ro tín dụng

Chương IX: Pháp luật về các biện pháp bảo đảm thay thế trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Việt Nam nhằm hạn chế rủi ro tín dụng

Chương X: Pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Việt Nam nhằm hạn chế rủi ro tín dụng

Chương XI: Pháp luật về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro ở Việt Nam

Chương XII: Pháp luật về mua bán nợ xấu của tổ chức tín dụng ở Việ Nam

Chương XIII: Pháp luật về xử lý nợ xấu của ngân hàng chính sách xã hội ở Việt Nam

Chương XIV: Pháp luật về thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng nhằm hạn chế rủi ro tín dụng của tổ chức tín dụng ở Việt Nam

 

4. Đánh giá bạn đọc

Lợi nhuận và rủi ro là hai hiện tượng luôn đi song hành với nhau, lợi nhuận càng lớn thỡ rủi ro càng cao đó là một nguyên tắc luôn luôn đúng với mọi hoạt động của chủ thể kinh doanh trong đó có ngân hàng. Phát triển kinh doanh và hạn chế rủi ro là yêu cầu cấp thiết quan trọng, chỉ khi hạn chế được rủi ro ngân hàng mới thực sự phát triển và tạo sự ổn định cho nền kinh tế. Hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu mang lại nhiều lợi nhuận nhất, vì vậy việc thực hiện pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng góp phần đảm bảo tính thanh khoản của ngân hàng và đảm bảo an toàn cho toàn bộ hệ thống. 

Cuốn sách được biên soạn giới thiệu tới người đọc những nội dung cơ bản từ lý luận đến thực tiễn pháp lý và đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Việt Nam. 

Cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích đối với ngược đọc trước hết là sinh viên ngành luật, ngân hàng, các nhà nghiên cứu và những người làm công tác thực tiễn trong ngành ngân hàng nói chung.

Kết luận: Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới".

Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây một số quy định về điều kiện khoản nợ được mua bán của tổ chức tín dụng theo quy định tại Thông tư 09/2015/TT-NHNN để bạn đọc tham khảo:

Mua, bán nợ là thỏa thuận bằng văn bản về việc chuyển giao quyền đòi nợ đối với khoản nợ phát sinh từ nghiệp vụ cho vay, khoản trả thay trong nghiệp vụ bảo lãnh, theo đó bên bán nợ chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ cho bên mua nợ và nhận tiền thanh toán từ bên mua nợ.

Điều 4. Điều kiện khoản nợ được mua, bán

Các khoản nợ được mua, bán phải đáp ứng các điều kiện sau:

1. Hồ sơ, chứng từ và các tài liệu có liên quan của khoản nợ được mua, bán, hợp đồng bảo đảm (nếu có) do bên bán nợ cung cấp phải phản ánh đầy đủ, chính xác thực trạng khoản nợ theo đúng quy định của pháp luật.

2. Không có thỏa thuận bằng văn bản về việc không được mua, bán khoản nợ.

3. Khoản nợ không được sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự tại thời điểm mua, bán nợ trừ trường hợp bên nhận bảo đảm đồng ý bằng văn bản về việc bán nợ.

Điều 5. Nguyên tắc thực hiện mua, bán nợ

1. Hoạt động mua, bán nợ không trái với nội dung quy định tại hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm đã ký kết giữa bên bán nợ, khách hàng và bên bảo đảm.

2. Hoạt động mua, bán nợ do các bên tự thỏa thuận, tuân thủ quy định tại Thông tư này và quy định của pháp luật có liên quan.

3. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ được mua nợ khi được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước) chấp thuận hoạt động mua nợ tại Giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng, Giấy phép thành lập của chi nhánh ngân hàng nước ngoài (sau đây gọi là Giấy phép) và có tỷ lệ nợ xấu dưới 3%, trừ trường hợp mua nợ theo phương án tái cơ cấu đã được phê duyệt. Trường hợp bán nợ thì không phải xin phép Ngân hàng Nhà nước.

4. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải ban hành quy định nội bộ về hoạt động mua, bán nợ (trong đó có quy định rõ về phân cấp thẩm quyền theo nguyên tắc phân định trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định mua, bán nợ; phương thức mua, bán nợ; quy trình mua, bán nợ; quy trình định giá khoản nợ; quy trình bán đấu giá khoản nợ trong trường hợp tự đấu giá khoản nợ và quản trị rủi ro đối với hoạt động mua, bán nợ) trước thực hiện mua, bán nợ.

5. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua nợ phải tuân thủ các quy định pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

6. Bên bán nợ không mua lại các khoản nợ đã bán.

7. Tổ chức tín dụng không được bán nợ cho công ty con của chính tổ chức tín dụng đó, trừ trường hợp bán nợ cho công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của tổ chức tín dụng mẹ theo phương án tái cơ cấu đã được phê duyệt.

8. Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản là công ty con của tổ chức tín dụng chỉ được mua nợ của tổ chức tín dụng khác, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi tổ chức tín dụng mẹ có tỷ lệ nợ xấu dưới 3%, trừ trường hợp mua nợ theo phương án tái cơ cấu đã được phê duyệt.

9. Trường hợp bán một phần khoản nợ hoặc bán một khoản nợ cho nhiều bên mua nợ, thì bên bán nợ và các bên mua nợ thỏa thuận với nhau về tỷ lệ tham gia, phương thức thực hiện, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, phân chia giá trị tài sản đảm bảo (nếu có) cho phần nợ được mua, bán và các nội dung cụ thể khác tại hợp đồng mua, bán nợ đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật.

10. Các khoản nợ được mua, bán nợ phải được theo dõi, hạch toán kế toán và báo cáo thống kê theo quy định của pháp luật.

4.1 Sách Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay xuất bản năm nào?

Sách Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới xuất bản năm 2016.

 

4.2 Sách Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay có giá bao nhiêu?

Sách Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới có giá bìa là 134.000 đồng.

 

4.3 Sách Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay có bao nhiêu trang?

Sách Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới có 443 trang.