1. Giới thiệu tác giả
Sách Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự do Tiến sĩ luật học Đặng Thị Thanh Hoa biên soạn.
Tiến sỹ Luật học Đặng Thị Thanh Hoa
Từ năm 2007 – 2017: Giảng viên Khoa luật dân sự trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh’
2017 – 2018: Trưởng bộ môn Luật tố tụng dân sự - Luật hôn nhân và gia đình trường Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh;
Hiện nay đang là Chủ tịch Trung tâm Hòa giải thương mại Đông Nam Á và là trọng tài viên Trung tâm trọng tài thương mại THA.
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự
Tác giả: Tiến sĩ luật học Đặng Thị Thanh Hoa
Nhà xuất bản Hồng Đức
3. Tổng quan nội dung sách
Mục II.2.1 Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (NQ49/TW) đã chỉ rõ quan điểm về việc xây dựng thủ tục rút gọn: “...Xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định”. Mục I.2.2 và Mục I.2.4 NQ49/TW cũng quy định: “Cải cách tư pháp phải xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội...” và “... tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh của nước ta và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế...”. Vì vậy, việc xây dựng thủ tục rút gọn (TTRG) trong tố tụng dân sự (TTDS) là đáp ứng đòi hỏi và yêu cầu của cải cách tư pháp hiện nay.
Hiến pháp năm 2013 (HP 2013) quy định rõ về việc áp dụng TTRG trong việc giải quyết một số tranh chấp tại Tòa án. Vì vậy, xây dựng TTRG trong TTDS để giải quyết vụ án về TTDS để giải quyết vụ án về TTDS, trong đó bao gồm tranh chấp kinh doanh thương mai là một trong những nhiệm vụ cấp thiết để triển khai thi hành HP 2013.
Bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2015 và có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2016 đã dành hai chương quy định về thủ tục rút gọn để giải quyết một số loại vụ án đáp ứng các điều kiện nhất định. Đây là một chế định hoàn toàn mới ở Việt Nam.
Nhằm phục vụ bạn đọc tìm hiểu, nghiên cứu về thủ tục rút gọn, tiến sĩ luật học Đặng Thị Thanh Hoa đã biên soạn cuốn sách: "Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự".
Nội dung cuốn sách gồm các chương như sau:
Chương 1. Thủ tục rút gọn: khái niệm, ý nghĩa và cơ sở pháp lý
Chương 2. Thủ tục rút gọn nhìn từ kinh nghiệm quốc tế
Chương 3. Xây dựng thủ tục rút gọn - nhìn từ pháp luật hiện hành
Chương 4. Xây dựng thủ tục rút gọn - nhìn từ thực tiễn xét xử
Chương 5. Thủ tục rút gọn - nhìn từ Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Chương 6. Hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi thủ tục rút gọn
Dưới đây là trích dẫn một số quy định về giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn tại tòa án cấp sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Thủ tục rút gọn là thủ tục tố tụng được áp dụng để giải quyết vụ án dân sự có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này với trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thông thường nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng nhưng vẫn bảo đảm đúng pháp luật.
Điều 317. Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn
1. Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ;
b) Các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng;
c) Không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự đã xuất trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản.
2. Đối với vụ án lao động đã được thụ lý, giải quyết theo thủ tục rút gọn mà người sử dụng lao động có quốc tịch nước ngoài hoặc người đại diện theo pháp luật của họ đã rời khỏi địa chỉ nơi cư trú, nơi có trụ sở mà không thông báo cho đương sự khác, Tòa án thì bị coi là trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Tòa án vẫn giải quyết vụ án đó theo thủ tục rút gọn quy định tại Phần này.
3. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn, nếu xuất hiện tình tiết mới sau đây làm cho vụ án không còn đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn thì Tòa án ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường:
a) Phát sinh tình tiết mới mà các đương sự không thống nhất do đó cần phải xác minh, thu thập thêm tài liệu, chứng cứ hoặc cần phải tiến hành giám định;
b) Cần phải định giá, thẩm định giá tài sản tranh chấp mà các đương sự không thống nhất về giá;
c) Cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
d) Phát sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
đ) Phát sinh yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập;
e) Phát sinh đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, yêu cầu xác minh, thu thập chứng cứ ở nước ngoài mà cần phải thực hiện ủy thác tư pháp, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này.
4. Trường hợp chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường thì thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án được tính lại kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.
Điều 318. Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn
1. Trong thời hạn không quá 01 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 195 của Bộ luật này, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn và mở phiên tòa xét xử trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định.
2. Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên Tòa án ra quyết định;
c) Vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục rút gọn;
d) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của nguyên đơn, bị đơn hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện quy định tại Điều 187 của Bộ luật này, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
đ) Họ, tên Thẩm phán, Thư ký Tòa án; họ, tên Thẩm phán dự khuyết (nếu có);
e) Họ, tên Kiểm sát viên; họ, tên Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có);
g) Ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa;
h) Xét xử công khai hoặc xét xử kín;
i) Họ, tên những người được triệu tập tham gia phiên tòa.
3. Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn phải được gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp.
Trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật này thì Tòa án phải gửi hồ sơ vụ án cùng quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp; trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát phải nghiên cứu và trả lại hồ sơ cho Tòa án.
Điều 320. Phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn
1. Các đương sự, Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt tại phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn. Trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử. Đương sự có quyền đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Trường hợp bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên tòa.
2. Thẩm phán tiến hành thủ tục khai mạc phiên tòa theo quy định tại Điều 239 của Bộ luật này.
3. Sau khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán tiến hành hòa giải, trừ trường hợp không được hòa giải theo quy định tại Điều 206 hoặc không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật này. Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định tại Điều 212 của Bộ luật này. Trường hợp các đương sự không thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Thẩm phán tiến hành xét xử.
Việc trình bày, tranh luận, đối đáp, đề xuất quan điểm về việc giải quyết vụ án được thực hiện theo quy định tại Mục 3 Chương XIV của Bộ luật này.
4. Trường hợp tại phiên tòa mà phát sinh tình tiết mới quy định tại khoản 3 Điều 317 của Bộ luật này làm cho vụ án không còn đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn thì Thẩm phán xem xét, ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường. Trong trường hợp này, thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án được tính theo quy định tại khoản 4 Điều 317 của Bộ luật này.
Điều 321. Hiệu lực của bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn
1. Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án theo thủ tục rút gọn có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm rút gọn.
2. Bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này.
4. Đánh giá bạn đọc
Cuốn sách "Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự" là một tài liệu hữu ích để bạn đọc là những người hành nghề luật và sinh viên ngành luật trong các trường đại học quan tâm nghiên cứu tham khảo. Tác giả đã trình bày khá toàn diện các vấn đề liên quan đến thủ tục rút gọn: từ các vấn đề lý luận, so sánh kinh nghiệm quốc tế và phân tích, đánh giá các quy định pháp luật về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự trên phương diện quy định pháp lý và cả trên thực tiễn xét xử.
Áp dụng thủ tục rút gọn đối với những vụ án dân sự có đủ điều kiện nhằm giải quyết nhanh chóng sự việc song vẫn đảm bảo đúng quy định pháp luật. Cuốn sách "Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự" là lựa chọn tham khảo phù hợp đối với những bạn đọc nghiên cứu, tìm hiểu về nội dung này trong pháp luật Việt Nam, đặc biệt đối với những người hành nghề luật và sinh viên đào tạo ngành luật.
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé!