1. Giới thiệu tác giả

Sách Vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện đại do TS. Nguyễn Minh Oanh làm chủ biên.

 

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện đại (TS. Nguyễn Minh Oanh chủ biên)

Sách Vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện đại

Tác giả: TS. Nguyễn Minh Oanh (chủ biên)

Nhà xuất bản Công an nhân dân

3. Tổng quan nội dung sách

Vật quyền là một khái niệm xuất phát từ thời La Mã chỉ quyền của chủ thể được thực hiện ngay tức khắc lên tài sản mà không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ ai. Lý thuyết về vật quyền đã được hoàn thiện qua thời gian và tiếp tục được vận dụng vào pháp luật dân sự hiện đại. Bộ Luật Dân sự ( BLDS ) của hầu hết các nước đều có ghi nhận chế định vật quyền như BLDS Pháp. BLDS Đức, BLDS Hà Lan, BLDS Nhật Bả nhiên, mỗi một bộ luật vận dụng lý thuyết vật quyền theo một cách riêng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng quốc gia.

Ở Việt Nam, BLDS năm 2015 được Quốc Hội khóa XIII thông qua ngày 24/11/2015 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2017. So với các BLDS được ban hành trước đó, BLDS năm 2015 ra đời được coi là một bước đột phá trong tư duy pháp lý và cơ chế pháp lý điều chỉnh các quan hệ dân sự. Một trong những điểm đột phá ấn tượng nhất là việc vận dụng lý thuyết vật quyền trong việc sửa đổi chế định tài sản và quyền sở hữu trong BLDS 2005 thành chế định quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản.

Nội dung cuốn sách được biên soạn với cấu trúc chương mục như sau:

Chương 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về vật quyền.

Chương 2. Khái quát sự phát triển của chế định vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam

Chương 3. Những quy định chung về vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam

Chương 4. Quyền sở hữu tài sản trong pháp luật dân sự

Chương 5. Quyền địa dịch trong pháp luật dân sự.

Chương 6. Quyền hưởng dụng trong pháp luật dân sự

Chương 7. Quyền bề mặt trong pháp luật dân sự

Chương 8. Vật quyền bảo đảm trong pháp luật dân sự

Dưới đây, Luật Minh Khuê xin phép được trích đoạn nội dung phân tích trong cuốn sách để bạn đọc tham khảo:

Khái niệm vật quyền
Quyền đối với vật và quyền yêu cầu hay trái quyền đã tồn tại từ trong pháp luật La mã (cách đây hơn 2000 năm). Trên cơ sở các quy định của vật quyền, pháp luật đã xác lập thẩm quyền (quyền năng) trực tiếp và thường xuyên của chủ thể - người có quyền sử dụng toàn bộ hay một phần hoặc toàn bộ đồ vật nằm trong các quan hệ vật quyền vì lợi ích của mình. Mặc dù các luật gia La mã không nêu ra định nghĩa cụ thể về vật quyền nhưng khái niệm vật quyền và trái quyền đã tồn tại từ thời kỳ này. Đến thời kỳ cận đại, bộ luật dân sự đầu tiên và nổi tiếng trên thế giới (bộ luật Napoléon - 1804) cũng đã ghi nhận về các loại vật quyền. Theo thời gian, việc vận dụng lý thuyết vật quyền - trái quyền đem lại lợi ích chung cho tất cả các hệ thống pháp luật dân sự, từ phương diện cấu trúc lập pháp, đến phương diện thực tiễn.
Trong quan niệm của người La Mã cổ đại, vật quyền được hiểu là quyền được chủ thể (người có quyền) thực hiện trực tiếp và tức thì trên một vật mà không cần vai trò trung gian của một người khác. Quan hệ vật quyền trên nguyên tắc hình thành từ hai yếu tố: Chủ thể của quyền (con người) và đối tượng của quyền (vật). Quan hệ ấy vận hành mà không cần đến vai trò của một chủ thể khác, đặc biệt là không cần sự hợp tác hoặc trợ lực của chủ thể khác. Mọi chủ thể khác đều phải tôn trọng quyền này. Tính chất trực tiếp và tức thì của vật quyền được thể hiện trong cách thức tác động bằng hành vi vật chất và cả hành vi pháp lý của chủ thể lên đối tượng của quyền. Chẳng hạn, chủ sở hữu một chiếc xe có thể tự mình đi xe hoặc đem cho mượn, cho thuê mà không cần sự đồng ý của người nào khác. Tương tự, người có quyền hưởng dụng được hưởng hoa lợi từ tài sản (ví dụ: hái quả, lấy gỗ...) mà không ai có quyền can thiệp.
Như vậy, theo cách hiểu trên thì khái niệm vật quyền được dùng theo cách của người La Mã cổ đại có nghĩa hẹp - là quyền được thực hiện trực tiếp trên một vật chất cụ thể và xác định khái niệm vật sẽ không bao hàm tài sản như cổ tức, trái phiếu, chứng khoán, quyền ưu tiên, quyền tương lai, quyền đối với tài sản cầm cố, thế chấp.... Tuy nhiên, có thể thấy rằng một số loại tài sản như giấy tờ có giá, quyền tài sản không được đề cập đến trong pháp luật la mã là bởi chúng chưa xuất hiện và tồn tại trong đời sống kinh tế của la mã cổ đại. Hơn nữa, khi nghiên cứu về khái niệm vật quyền trong pháp luật La Mã, tác giả Edinburgh cho rằng: "Một thứ gì đó được nhìn nhận là vật trong luật La Mã là thứ mà người La Mã dùng để chỉ tài sản thuộc sở hữu của một người nào đó. Vật trong luật la mã không chỉ là vật với nghĩa vật chất và hữu hình mà còn bao gồm cả những thứ phi vật chất và vô hình giống như quyền đối với tài sản. Nói cách khác, vật trong luật La Mã dùng để chỉ tất cả những thứ mà có thể là đối tượng của một quyền hoặc thông qua nó để có quyền được thực hiện bởi các chủ thể, bao gồm các đối tượng vật chất và tài sản vô hình (quyền) như quyền thừa kế, dịch chuyển,...
Một chút phân tích về quyền đối với bất động sản liền kề theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 để bạn đọc tham khảo:
"Trong quá trình sử dụng tài sản, đặc biệt là bất động sản, nhiều khi chủ sở hữu phải sử dụng bất động sản liền kề không thuộc sở hữu của mình thì mới có thể khai thác được công dụng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Điều 245 BLDS 2015 quy định: “Quyền đối với bất động sản liền kề là quyền được được thực hiện trên một bất động sản (gọi là bất động sản hưởng quyền) nhằm phục vụ cho việc khai thác một bất động sản khác thuộc quyền sở hữu của người khác (gọi là bất động sản hưởng quyền)”
Trong các Bộ dân luật cũ ở Việt Nam trước đây, quyền này được ghi nhận và được gọi là “quyền địa dịch” hay còn gọi là “dịch quyền”. Đó cũng là những quy định của pháp luật dân sự về quyền có lối đi qua bất động sản của chủ sở hữu khác, quyền được đặt đường ống cấp, thoát nước, quyền được sử dụng lối dẫn nước trong canh tác để phục vụ tưới tiêu.
Ngay nay, BLDS không sử dụng thuật ngữ địa dịch (từ Hán Việt) mà sử dụng khái niệm quyền đối với bất động sản liền kề. Quyền đối với bất động sản liền kề bao gồm: Quyền về lối đi qua; Quyền mắc đường dây tải điện, đường dây thông tin liên lạc; Quyền cấp thoát nước; Quyền về nước tưới, tiêu nước.
Ngoài quyền sử dụng hạn chế bất động sản, người chiếm hữu bất hợp pháp ngay tình được pháp luật bảo vệ nếu giao dịch dân sự vô hiệu. Trong một số trường hợp, tài sản giao dịch đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch dân sự với người thứ ba vẫn có hiệu lực. Người thứ ba có quyền yêu cầu người đã xác lập giao dịch với mình phải bồi thường thiệt hại nếu tài sản bị tịch thu sung quỹ nhà nước hoặc phải trả lại cho người có quyền nhận tài sản đó.
Chủ sở hữu có quyền sở hữu đối với mốc giới ngăn cách bất động sản. Quyền sở hữu này có thể là quyền sở hữu chung nếu được xây dựng hoặc tạo lập trên đất thuộc quyền sử dụng chung. Nếu mốc giới được tạo dựng do công sức của chủ sở hữu và trên đất thuộc quyền sử dụng chung. Nếu mốc giới được tạo dựng do công sức của chủ sở hữu và trên đất thuộc quyền sử dụng của người đó thì không phải thuộc sở hữu chung. Trong trường hợp mốc giới là tường nhà chung thì những chủ sở hữu bất động sản liền kề không được trổ cửa, lỗ thông khí hoặc đục tường để đặt kết cấu xây dựng, khi các bên có thỏa thuận và đồng ý.
Quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề có thể bị chấm dứt khi các chủ sở hữu nhập làm một hoặc không còn nhu cầu sử dụng hạn chế bất động sản liền kề.
Quyền sở hữu của các chủ sở hữu được Nhà nước bảo hộ, Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho chủ sở hữu thực hiện tốt quyền sử dụng tài sản của mình thì chủ sở hữu cũng phải có nghĩa vụ đối với các chủ thể khác khi họ thực hiện quyền sở hữu tài sản của họ mà phải nhờ đến sự giúp đỡ của chủ sở hữu bất động sản liền kề hoặc vì mục đích chung phục vụ lợi ích cho Nhà nước và xã hội, chủ sở hữu phải có nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội.
Bên cạnh đó, trong quá trình sinh sống, để không làm ảnh hưởng đến những chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh, chủ sở hữu nhà ở còn phải có nghĩa vụ trong việc thoát nước mưa, nước  (Điều 250, 251 BLDS)."
 

4. Đánh giá bạn đọc

Nội dung của vật quyền trong pháp luật dân sự được biểu hiện qua:

- Quyền sở hữu đối với tài sản (chiếm hữu, sử dụng và định đoạt)

- Quyền khác đối với tài sản (quyền đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt)

Nội dung cuốn sách "Vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện đại" do TS. Nguyễn Minh Oanh làm chủ biên đã thể hiện bao quát các vấn đề lý luận về vật quyền và phân tích các quy định hiện hành tại Bộ luật dân sự năm 2015 về vật quyền. Những luận giải này giúp bạn đọc trước hết hiểu rõ những vấn đề pháp lý cơ bản về vật quyền (khái niệm, đặc điểm) và nhận diện được biểu hiện (nội dung) của nó theo ghi nhận của pháp luật và trên thực tiễn. 

Nội dung cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy cũng như trong công tác thực tiễn đối với sinh viên chuyên ngành luật, nhà nghiên cứu, giảng viên.

Cuốn sách không chỉ có giá trị về mặt khoa học pháp lý mà còn có giá trị thực tiễn đối với bạn đọc.

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ “Vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện đại"