1. Cách sang tên sổ đỏ cho người được hưởng di chúc ?

Chào Luật sư! Bà nội em khoảng thời gian còn sống có để di chúc lại cho em thừa kế miếng đất có diện tích 250m2. Lúc đó e còn nhỏ và chưa đủ 18 tuổi. Khoảng thời gian đó vào năm 2004. Sau này làm sổ đỏ vào năm 2006 vì e chưa đủ 18 tuổi nên sổ đỏ tên của bố mẹ em. Nhưng khúc mắc ở chỗ bố em đi biệt tích cũng từ khoảng thời gian từ 2004 đến nay. Nhưng gia đình em chưa thông báo mất tích tới địa phương.
Bây giờ em đã 21 tuổi, gia đình muốn sang tên sổ đỏ cho em thì phải làm như thế nào?
Kính mong công ty trả lời giúp em. Xin chân thành cảm ơn!

Kính thưa Quý khách hàng, Công ty TNHH Luật Minh Khuê đã nhận được yêu cầu của Quý khách. Vấn đề của Quý khách chúng tôi xin giải đáp như sau:

Việc bạn được bà để lại di chúc thừa kế miếng đất có diện tích 250m2. Nhưng do thời gian mở di chúc bạn chưa đủ 18 tuổi và việc năm 2006 làm sổ đỏ miếng đất này đứng tên bố mẹ bạn. Từ đó cho đến bây giờ khi bạn đã 21 tuổi xong bố bạn đi biệt tích thì bạn. Nếu bố bạn không có mặt ở nhà thì không thể sang tên sang cho bạn được mà bạn và gia đình cần yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú.

- Theo điều 74 Bộ luật dân sự 2005 quy định yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó:

Điều 74. Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó

Khi một người biệt tích sáu tháng liền trở lên thì những người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Toà án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và có thể yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt quy định tại Điều 75 của Bộ luật này

- Nếu đã thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú 2 năm liền mà không có tung tích, Theo điều 78 bộ luật dân sự 2005 quy định tuyên bố một người mất tích:

Điều 78. Tuyên bố một người mất tích

1. Khi một người biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án có thể tuyên bố người đó mất tích. Thời hạn hai năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn.

Theo điều 79 bộ luật dân sự 2005 quy định quản lý tài sản của người bị tuyên mất tích:

Điều 79. Quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích

Người đang quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú quy định tại khoản 1 Điều 75 của Bộ luật này tiếp tục quản lý tài sản của người đó khi người đó bị Toà án tuyên bố mất tích và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 76 và Điều 77 của Bộ luật này.

Trong trường hợp Toà án giải quyết cho vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích ly hôn thì tài sản của người mất tích được giao cho con đã thành niên hoặc cha, mẹ của người mất tích quản lý; nếu không có những người này thì giao cho người thân thích của người mất tích quản lý; nếu không có người thân thích thì Toà án chỉ định người khác quản lý tài sản.

- Nếu đã tuyên bố mất tích mà 3 năm liên tục mà không có thông tin gì, Theo điều 81 bộ luật dân sự 2005 quy định tuyên bố một người là đã chết:

Điều 81. Tuyên bố một người là đã chết

1. Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Toà án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong các trường hợp sau đây:

a) Sau ba năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Toà án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

- Theo điều 82 bộ luật dân sự 2005 quy định quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người bị tòa án tuyên bố là đã chết:

Điều 82. Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người bị Toà án tuyên bố là đã chết

1. Khi quyết định của Toà án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.

2. Quan hệ tài sản của người bị Toà án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Theo đó khi một người biệt tích 2 năm trở lên và mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án có thể tuyên bố người đó mất tích. Sau ba năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Toà án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống thì người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu tòa án ra quyết định tuyên bố một người đã chết.

Theo quy định tại điều 82 bộ luật dân sự 2005 thì một người khi có quyết định của tòa án tuyên bố đã chết thì tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật thừa kế. Theo đó khi đáp ứng đủ các điều kiện trên thì mẹ bạn có thể tiến hành sang tên sổ đỏ cho bạn.

Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

>> Xem thêm:  Tư vấn soạn thảo di chúc và Dịch vụ làm chứng, chứng thực di chúc

2. Có cần người làm chứng di chúc hay không ?

Ban đầu TAND Tối cao cho rằng không vì di chúc đã đọc cho người lập nghe nhưng sau đó lại bảo cần người làm chứng.Theo hồ sơ, năm 1994, mẹ của bà Lệ và bà Nhơn làm di chúc giao căn nhà cho bà Nhơn sở hữu. Sau đó bà Lệ khởi kiện yêu cầu hủy tờ di chúc trên vì cho rằng không hợp pháp do chỉ có công chứng viên chứng nhận mà không có người làm chứng.

Trước sau bất nhất

Tháng 8-2007, TAND TP Đà Lạt xử sơ thẩm, tuyên bác yêu cầu của nguyên đơn, công nhận tính hợp pháp của bản di chúc, công nhận căn nhà trên thuộc sở hữu của bà Nhơn. Phía bà Lệ kháng cáo. Ngày 31-3-2008, TAND tỉnh xử phúc thẩm cũng tuyên bác yêu cầu của bà Lệ.

Bà Lệ tiếp tục làm đơn khiếu nại giám đốc thẩm. Tháng 10-2008, Tòa Dân sự TAND Tối cao có văn bản trả lời không có cơ sở chấp nhận yêu cầu vì hai cấp tòa xử bác yêu cầu hủy di chúc là hoàn toàn có căn cứ đúng luật. Cụ thể, Điều 14 Pháp lệnh Thừa kế quy định trong trường hợp người lập di chúc không đọc được, không ký hoặc điểm chỉ được thì mới phải nhờ người làm chứng xác nhận. Cạnh đó, khoản 2 Điều 661 BLDS năm 1995 và Điều 658 BLDS năm 2005 cũng khẳng định chỉ khi người lập di chúc không đọc, không nghe, không ký tên, không điểm chỉ được thì mới cần người làm chứng. Trong vụ án này, mẹ của hai bên đương sự đã nghe đọc lại bản di chúc và điểm chỉ trước sự chứng kiến của công chứng viên, công chứng viên cũng đã xác nhận điều này nên bản di chúc hợp pháp, có giá trị thực thi.

Sau công văn trả lời khiếu nại khá rõ của Tòa Dân sự TAND Tối cao, Chi cục Thi hành án Dân sự TP Đà Lạt đã chuẩn bị lên kế hoạch thi hành án theo yêu cầu nhưng bất ngờ vào phút cuối, ngày 25-3-2011 (tức còn sáu ngày nữa là hết hạn ba năm kháng nghị giám đốc thẩm), Phó Chánh án TAND Tối cao Từ Văn Nhũ đã ký quyết định kháng nghị, đề nghị Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao xử hủy cả hai bản án, trả hồ sơ cho cấp sơ thẩm xét xử lại từ đầu bởi tờ di chúc trên không có người làm chứng nên không hợp pháp. Cạnh đó, hai cấp tòa cần phải xác minh rõ bà Nhơn có chăm sóc mẹ chu đáo và thờ cúng sau khi chết như trong bản di chúc hay không.

Chồng chết không để lại di chúc thì ba mẹ chồng có được tranh chấp tài sản thừa kế không?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

Vẫn tranh cãi

Từ quyết định kháng nghị này của TAND Tối cao đã xuất hiện hai quan điểm khác nhau về vụ án này.

Một quan điểm cho rằng nội dung trong bản di chúc thể hiện rõ bà Nhơn là người duy nhất quan tâm đến cha mẹ lúc còn sống cũng như đã chết. Trong hồ sơ để lập di chúc, bà Nhơn cũng được UBND phường xác nhận đơn đã nuôi dưỡng cha mẹ suốt 30 năm. Thấy mẹ con bà Lệ có biểu hiện quậy phá nên mẹ bà sợ và quyết định lập bản di chúc. Mặt khác theo quy định, người lập di chúc không đọc được, không nghe, không ký hoặc điểm chỉ được… thì mới phải nhờ người làm chứng xác nhận. Công chứng viên đã xem xét tất cả tình huống này, thấy không có vi phạm và đã đọc lại bản di chúc cho mẹ bà Nhơn nghe. Bà này cũng không bị hạn chế nhận thức… nên việc công chứng viên nhận định là phù hợp.

Ý kiến khác bảo phó chánh án TAND Tối cao kháng nghị vẫn có cơ sở. Bởi lẽ rất khó có cơ sở cho rằng mẹ bà Nhơn minh mẫn khi làm di chúc. Dù công chứng viên có xác nhận nhưng tòa vẫn chưa làm rõ bà Nhơn có chăm sóc mẹ chu đáo và thờ cúng sau khi chết như trong bản di chúc hay không nên vẫn có thể xem xét lại để bảo vệ quyền lợi của những người liên quan…

Lý do để kháng nghị là sai

Về thẩm quyền, thời hạn của việc kháng nghị giám đốc thẩm không sai nhưng tôi cho rằng nội dung để kháng nghị có vấn đề. Bởi khoản 3 Điều 4 Pháp lệnh Thừa kế nêu rõ: “Trong trường hợp người lập di chúc không đọc bản di chúc được, không ký hoặc điểm chỉ được thì phải nhờ người chứng kiến”. Tiếp đó Điều 658 BLDS cũng quy định: “Người lập di chúc có quyền ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình”. Trong vụ án này, hồ sơ thể hiện mẹ bà Nhơn đủ sức khỏe, đủ minh mẫn và sau khi được nghe đọc lại đã điểm chỉ vào tờ di chúc trước sự chứng kiến và xác nhận của công chứng viên. Như vậy, mọi điều kiện thủ tục đã được hoàn tất nên bản di chúc trên hợp pháp và có giá trị pháp lý, không có tình tiết gì mới thể hiện có dấu hiệu của sự ép buộc giữa hai bên khi thực hiện di chúc. Kể cả khi cho rằng người lập di chúc không biết đọc, biết viết là có nhược điểm về thể chất thì cũng không cần người làm chứng riêng vì bản thân công chứng viên đã là người làm chứng quan trọng nhất. Vì họ có đủ trình độ, đạo đức, thân phận pháp lý khi hành nghề. Do đó, TAND Tối cao xác định do không có người làm chứng nên kháng nghị giám đốc thẩm, đề nghị hủy hai bản án là không đúng quy định pháp luật. Cạnh đó, bản thân việc kháng nghị ở “phút 89” gây cảm giác bất thường xung quanh quyết định này.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục lập di chúc phân chia tài sản cho con cháu ? Di chúc viết tay có hợp pháp không ?

3. Chồng chết không để lại di chúc thì chia tài sản thế nào ?

Kính thưa Luật sư, em muốn hỏi về vấn đề thừa kế - tranh chấp tài sản như sau: vợ chồng em có tự mua 1 miếng đất (đứng tên 2 vợ chồng) và xây nhà trên đó. Em có 2 người con.
Nếu chẳng may em chết không để lại di chúc thì ngoài vợ con em được thừa kế thì cha mẹ em có được tranh chấp phần tài sản này không ạ?
Em mong Luật sư giải đáp giúp em. Em xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Luật sư trả lời:

Nếu như trong trường hợp bạn đặt ra là khi bạn chết không để lại di chúc thì theo quy định tại khoản 1 điều 650 Bộ luật Dân sự 2015:

Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Theo đó, trường hợp của bạn sẽ thuộc trường hợp thừa kế theo pháp luật. Khi phân chia thừa kế theo pháp luật thì phải đảm bảo về hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thủ tục theo pháp luật quy định. Mà theo quy định về người thừa kế theo pháp luật tại Điều 651 Bộ Luật Dân sự 2015 thì:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Lúc này, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ của bạn, cha mẹ đẻ của bạn và 2 người con đẻ của bạn sẽ được hưởng phần di sản mà bạn để lại. Vì quyền sử dụng đất đứng tên hai vợ chồng bạn nên khi bạn chết mà không để lại di chúc thì những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bạn sẽ chỉ được hưởng một phần quyền sử dụng đất đó.

Như vậy, cha mẹ của bạn vẫn có quyền được hưởng di sản nếu bạn chết nhưng không để lại di chúc.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Người không biết chữ muốn để lại di chúc thì phải làm thế nào ? Di chúc có phải công chứng ?

4. Khi nào áp dụng việc chia tài sản thừa kế theo di chúc ?

Thưa luật sư, Chồng tôi được thừa hưởng đất của ông chú (không có vợ và con) để lại từ năm 1985 nhưng khi chết không có giấy tờ gì để lại chỉ di chúc miệng, mảnh đất cũng chưa cấp sổ đỏ từ thời ông chú, gia đình tôi sống trên mảnh đất này từ năm 1985 không có tranh chấp gì.Nay tôi muốn làm sổ đỏ cần phải có những giáy tờ gi? tôi có thể làm sổ đỏ theo đất không có di chúc và gia đình đã ở từ lâu có được không ?
Cảm ơn!

Trả lời:Luật sư tư vấn:

Căn cứ quy định tại Luật đất đai năm 2013 như sau:

" Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất[....]

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. [..]"

Gia đình bạn đã sử dụng đất từ năm 1985 mà không có giấy tờ gì về đất,được UBND xã xác nhận là đất không có tranh chấp và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất thì gia đình bạn đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận sử dụng đất.

Hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận sử dụng đất bao gồm :

Theo quy định Luật đất đai năm 2013, Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2013, Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

1. Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Hộ gia đình, cá nhân đề nghị cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm nộp tại UBND cấp xã nơi có đất hoặc Văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện (01) bộ hồ sơ gồm:

a) Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận (theo mẫu);

b) Bản photocopy sổ hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân. Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải có bản sao giấy tờ chứng minh thuộc đối tượng và đủ điều kiện được sở hữu nhà ở và sử dụng đất ở tại Việt Nam theo quy định tại Điều 66, 67 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP;

c) Bản sao chứng thực giấy tờ về quyền sử dụng đất (nếu có);

d) Bản sao chứng thực giấy tờ về tài sản gắn liền với đất theo quy định tại Quy định này (nếu có tài sản và có yêu cầu chứng nhận quyền sở hữu);

đ) Sơ đồ nhà ở, công trình xây dựng (trừ trường hợp trong giấy tờ quy định tại điểm d khoản này đã có sơ đồ nhà ở, công trình xây dựng);

e) Văn bản ủy quyền nộp hồ sơ hoặc nhận Giấy chứng nhận (nếu có);

f) Bản sao các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định của pháp luật (nếu có);

g) Tờ khai nộp lệ phí trước bạ nhà, đất (theo mẫu);

h) Đơn đề nghị được ghi nợ tiền sử dụng đất, ghi nợ lệ phí trước bạ (đối với trường hợp chưa có khả năng tài chính để nộp tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ).

Hồ sơ được nộp tại UBND xã/ phường nơi có đất. UBND xã/phường nơi có đất xem xét nguồn gốc đất, nhà ở và công trình trên đất xác nhận vào đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, niêm yết công khai tại trụ sở UBND trong thời gian 15 ngày. Sau đó UBND xã/phường nơi có đất lập Tờ trình kèm theo hồ sơ gửi UBND cấp huyện (qua Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện) đề nghị cấp Giấy chứng nhận;

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi muốn tìm hiểu về trách nhiệm và quyền hạn của cán bộ tư pháp xã trong việc chứng nhận di chúc, thủ tục như thế nào?

=> Căn cứ quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 như sau:

" Điều 658. Thủ tục lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn

Việc lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải tuân theo thủ tục sau đây:

1. Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố. Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn ký vào bản di chúc;

2. Trong trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.

Điều 659. Người không được công chứng, chứng thực di chúc

Công chứng viên, người có thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn không được công chứng, chứng thực đối với di chúc, nếu họ là:

1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;

2. Người có cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật;

3. Người có quyền, nghĩa vụ về tài sản liên quan tới nội dung di chúc

Điều 661. Di chúc do công chứng viên lập tại chỗ ở

1. Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng viên tới chỗ ở của mình để lập di chúc.

2. Thủ tục lập di chúc tại chỗ ở được tiến hành như thủ tục lập di chúc tại cơ quan công chứng theo quy định tại Điều 658 của Bộ luật này. "

Xin luật sư cho em hỏi. Nhà em có 7 chị em 6 chị đã đi lấy chồng. Sổ đỏ đứng tên bố em. nhưng bố em đã mất. Giờ em sống cùng mẹ. Em muốn chuyển sổ đỏ sang tên mình thì em phải làm những thủ tục giấy tờ gì ? Vì bố em trước khi mất không để lại di chúc. Vì gia đình. Có mỗi em là con trai.. Em cảm ơn.

=> Trường hợp của bạn do bố mất không để lại di chúc nên để có thể sang tên giấy chứng nhận sử dụng đất thì bạn phải có sự đồng ý của mẹ bạn và 6 người chị còn lại. Bạn phải lập một văn bản có nội dung về việc đồng ý của những người còn lại trong gia đình đồng ý cho bạn đứng tên thì khi đó bạn mới đủ điều kiện để được sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Thủ tục sang tên giấy chứng nhận sử dụng đất thì hồ sơ bao gồm:

+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (1 bản gốc + 3 bản sao công chứng)

+ Văn bản có sự đồng ý của các bên cho phép bạn sang tên

+ Sơ đồ kỹ thuật thửa đất (nếu có)

+ Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của bên bạn (bản sao, công chứng)

Thứ hai, Nơi nộp hồ sơ: nơi có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 105 Luật Đất Đai 2013 do Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi có bất động sản cấp.

Thưa luật sư, Ông A có vợ là bà B và có 3 con là C,D,E. C kết hôn với K và có 2 con là M,N. Ông A lập di chúc cho C một nữa tài sản và D một nữa tài sản. A, C chết cùng lúc do tai nạn giao thông. hỏi: Chia tài sản của A, biết tài sản là 970triệu, A có vay 50tr trước khi chết, mai táng cho A là 20tr ?

=> Căn cứ quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 như sau:

" Điều 683. Thứ tự ưu tiên thanh toán

Các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán theo thứ tự sau đây:

1. Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng;

2. Tiền cấp dưỡng còn thiếu;

3. Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ;

4. Tiền công lao động;

5. Tiền bồi thường thiệt hại;

6. Thuế và các khoản nợ khác đối với Nhà nước;

7. Tiền phạt;

8. Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác;

9. Chi phí cho việc bảo quản di sản;

10. Các chi phí khác".

Trường hợp này trước khi tài sản được phân chia theo thừa kế thì phải ưu tiên thanh toán về phí mai táng và các khoản nợ của A trước. Sau đó, số tài sản còn lại mới được phân chia sau khi bên A đã thanh toán theo quy định trên. Trường hợp này A để lại di chúc.

Trong trường hợp này, sau khi đã thanh toán xong các chi phí hợp lý của ông A thì căn cứ quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 như sau:

" Điều 677. Thừa kế thế vị

Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống".

Như vậy, trong trường hợp này số di sản cua ông A còn lại là 900 triệu, thì chia theo di chúc của ông A sẽ là anh D được hưởng 1/2 số di sản là 450 triệu, còn phần di sản của anh C sẽ được chia cho M và N. Tuy nhiên nếu như có trường hợp thuộc quy định sau thì sẽ không phụ thuộc vào nội dung di chúc

" Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động".

Xin chào luật sư, Ba – Mẹ tôi có lập di chúc để lại căn nhà cho tôi và người anh toàn quyền quyết định về căn nhà do ông bà đứng tên sau khi ông bà chết Xin cho hỏi để sang tên căn nhà qua cho 2 anh em tôi thì phải làm ở đâu và trình tự như thế nào ? Xin cảm ơn

=> Ở đây là trường hợp sang tên giấy chứng nhận sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền trên đất thì bạn có thể thực hiện

- Hồ sơ:

+ Đơn đề nghị được đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất của người thừa kế ( đối với người thừa kế là người duy nhất)

+ Văn bản hợp pháp về thừa kế hoặc hợp đồng tặng cho có công chứng, chứng thực.

+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất.

+ Biên lai xác định các nghĩa vụ thuế/lệ phí trước bạ.

+ Giấy tờ tùy thân của các bên.

- Nơi nộp: Phòng tài nguyên môi trường cấp quận/huyện

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

5. Hướng dẫn phân chia tài sản thừa kế ?

Chào luật sư ! Ông nội bà nội tôi đã mất có 9 người con, một căn nhà chung và giao quyền thừa kế căn nhà cho ba tôi đứng tên căn nhà không có di chúc. Giờ ba tôi cũng đã chết vậy còn 8 người con trong gia đình của ông nội bà nội có được chia căn nhà đó không ?
Mong Luật sư tư vấn giúp tôi !

Luật sư tư vấn :

Theo quy định của pháp luật Dân sự, thừa kế là việc chuyển dịch tài sản của người đã chết cho người còn sống, tài sản để lại được gọi là di sản. Điều 609Bộ Luật Dân sự 2015 xác định cụ thể quyền thừa kế của cá nhân như sau:

“Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”.

Khi ông bạn mất mà không để lại di chúc, việc phân chia di sản thừa kế sẽ được tiến hành theo quy định của pháp luật dân sự về thừa kế. Cụ thể nguyên tắc phân chia di sản thừa kế theo pháp luật là: chia theo hàng thừa kế, hàng thừa kế thứ nhất sẽ được phân chia trước, nếu hàng thừa kế thứ nhất không còn ai hoặc những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất từ chối nhận di sản thừa kế thì mới phân chia sang hàng thừa kế thứ hai, thứ ba.. Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật như sau:

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông bạn lúc này gồm có: 8 người con của ông bạn. Nếu bố bạn muốn được quyền sử dụng đối với toàn bộ diện tích thửa đất mang tên ông bà bạn thì phải được những người thừa kế khác tặng cho, chuyển quyền hoặc từ chối nhận phần di sản thừa kế mà họ nhận được từ ông bà bạn để lại vì ông bà có giao cho bố bạn quyền thừa kế nhưng không có di chúc vậy sẽ chia theo quy định của pháp luật

Thủ tục thực hiện công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản. Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 , Khoản 2 Điều 57, Luật công chứng 2014 quy định:

“Điều 57. Công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản

1. Những người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc mà trong di chúc không xác định rõ phần di sản được hưởng của từng người thì có quyền yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản.

Trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản, người được hưởng di sản có thể tặng cho toàn bộ hoặc một phần di sản mà mình được hưởng cho người thừa kế khác.

2. Trường hợp di sản là quyền sử dụng đất hoặc tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản đó.

Trường hợp thừa kế theo pháp luật, thì trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản theo quy định của pháp luật về thừa kế. Trường hợp thừa kế theo di chúc, trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có bản sao di chúc.

3. Công chứng viên phải kiểm tra để xác định người để lại di sản đúng là người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản và những người yêu cầu công chứng đúng là người được hưởng di sản; nếu thấy chưa rõ hoặc có căn cứ cho rằng việc để lại di sản và hưởng di sản là không đúng pháp luật thì từ chối yêu cầu công chứng hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định.

Tổ chức hành nghề công chứng có trách nhiệm niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản trước khi thực hiện việc công chứng.

4. Văn bản thỏa thuận phân chia di sản đã được công chứng là một trong các căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản cho người được hưởng di sản.”

Một số giấy tờ cần có theo Luật thừa kế đất đai không có di chúc:

– Văn bản thỏa thuận phân chia di sản giữa những người con và có chữ ký.

– Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và các tài sản khác gắn liền với đất đứng tên ông bà bạn

– Giấy chứng tử của ông bà bạn

– Giấy tờ tùy thân của người nhận di sản như: CMND/ hộ chiếu của những người thừa kế

– Giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản theo quy định của pháp luật thừa kế.

Sau khi đã công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản tại Văn phòng công chứng, thì những người thừa kế có thể nộp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và các tài sản khác gắn liền với đất tại văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện để cơ quan đăng ký đất đai xem xét tách đất và làm sổ mới.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế quyền sử dụng đất là gì ? Bản họp gia đình phân chia tài sản thừa kế có ý nghĩa gì ?