- 1. Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định trong luật HN&GĐ 2014
- 1.1. Tài sản chung của vợ chồng
- 1.1.1. Căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng
- 1.1.1.1.Căn cứ vào thời điểm phát sinh tài sản
- 1.1.1.2.Căn cứ vào nguồn gốc tài sản
- 1.1.1.3. Căn cứ vào ý chí của vợ chồng: Tài sản riêng mà vợ chồng thỏa thuận nhập vào tài sản chung
- 1.1.2. Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung
- 1.1.3. Chia tài sản của vợ chồng đối với tài sản chung ( chia trong thời kì hôn nhân, chia khi ly hôn)
- 1.1.3.1 Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
- 1.1.3.2 Chia tài sản chung khi ly hôn
- 1.1.3.3 Chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên là đã chết
- 1.2. Tài sản riêng của vợ chồng
- 1.2.1. Căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ chồng
- 1.2.2. Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản riêng.
- 1.2.3. Nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung
- 2. Đánh giá chế độ tài sản theo luật định trong Luật HN&GĐ 2014
- 2.1. Tích cực
- 2.2. Hạn chế
- 3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ tài sản theo luật định
1. Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định trong luật HN&GĐ 2014
1.1. Tài sản chung của vợ chồng
1.1.1. Căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng
1.1.1.1.Căn cứ vào thời điểm phát sinh tài sản
Tài sản do vợ chồng làm ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kì hôn nhân. -> không dựa vào căn cứ đóng góp.
Các thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kì hôn nhân (Điều 9 Nghị định 126/2014/NĐ-CP)
Về nguyên tắc, những tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung của vợ chồng. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
1.1.1.2.Căn cứ vào nguồn gốc tài sản
Tài sản mà vợ chồng được tặng cho chung. Để xác định là tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp này, phải dựa vào ý chí của người tặng cho. Nếu chủ sở hữu tài sản thể hiện ý chí tặng cho cả 2 vợ chồng và không đề cập đến quyền sở hữu của mỗi người thì tài sản này là tài sản chung của vợ chồng. Nhưng nếu người tặng cho thể hiện rõ phần quyền sỡ hữu của vợ, chồng thì tài sản tặng cho này không phải là tài sản chung của vợ chồng. Vì tài sản này đã trở thành tài sản chung theo phần, mà tài sản chung của vợ chồng là tài sản chung hợp nhất.
Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung. Theo quy định của pháp luật thừa kế, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung để trở thành tài sản chung chỉ có thể xảy ra trong trường hợp thừa kế theo di chúc ( khi người để lại di chúc không phân định rõ phần quyền sở hữu của hai vợ chồng). Bởi diện vào hàng thừa kế theo pháp luật không có con dâu, con rể. Trong trường hợp đặc biệt, nếu cả vợ và chồng đều được hưởng thừa kế theo pháp luật thì phần mỗi người được hưởng sẽ là tài sản riêng của người đó.
1.1.1.3. Căn cứ vào ý chí của vợ chồng: Tài sản riêng mà vợ chồng thỏa thuận nhập vào tài sản chung
Pháp luật ghi nhận việc thỏa thuận của các bên trên nguyên tắc quyền tự định đoạt, giữa vợ và chồng có thể thỏa thuận nhập tài sản riêng của mỗi bên vào tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Việc nhập hay không nhập tài sản riêng thành tài sản chung hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của người vợ, chồng, pháp luật không can thiệp. Tuy nhiên Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó.
Căn cứ suy đoán pháp lý: khoản 3 Điều 33 Luật HNGĐ 2014, Điểm b mục 3 Nghị quyết 02/2000.
Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành quy định nguyên tắc suy đoán về nguồn gốc tài sản của vợ chồng khi giải quyết tranh chấp: “Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung ”
1.1.2. Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung
Quyền của vợ chồng đối với tài sản chung
Vợ, chồng có quyền bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung. Mọi giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình thì vợ chồng cần phải bàn bạc, thỏa thuận với nhau thì những giao dịch đó mới có giá trị pháp lý. Trong trường hợp vì lý do nào đó mà chỉ có một bên vợ hoặc chồng thực hiện giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng nhằm để phục vụ nhu cầu sinh hoạt thiết yếu hàng ngày của gia đình thì bên kia phải chịu trách nhiệm liên đới.
Nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung
Giấy đăng ký quyền sở hữu tài sản chung phải đăng ký tên cả hai vợ chồng
Giao dịch liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận của vợ, chồng
Vợ chồng phải cùng chịu trách nhiệm với giao dịch mà vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập
Vợ chồng có thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó
1.1.3. Chia tài sản của vợ chồng đối với tài sản chung ( chia trong thời kì hôn nhân, chia khi ly hôn)
1.1.3.1 Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Nguyên tắc của việc chia tài sản trong trường hợp dựa vào Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 sẽ gồm hai trường hợp như sau:
- Vợ, chồng tự thỏa thuận phân chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung.
- Vợ, chồng yêu cầu Tòa án giải quyết (trong trường hợp không thỏa thuận được).
Về hình thức của thỏa thuận: bắt buộc là văn bản được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật; nếu chia tài sản là bất động sản hoặc động sản có đăng ký thì phải công chứng, chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền.
Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là thời điểm mà tại đó, phần tài sản nhận được của vợ và chồng từ tài sản chung cũng như quyền và nghĩa vụ của mỗi người đối với tài sản đó được xác lập. Thời điểm này được quy định tại Điều 39 Luật HNGĐ.
Hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được quy định tại Điều 40 Luật hôn nhân và gia đình và được hướng dẫn thi hành bởi Điều 14 Nghị định 126/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật hôn nhân và gia đình như sau:
- Đối với tài sản chung được chia: Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì phần tài sản chung được chia sẻ được xác định là tài sản riêng của vợ, chồng theo thỏa thuận, hoặc theo quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Phần hoa lợi, lợi tức phát sinh từ những tài sản đó sau khi tiến hành chia tài sản sẽ là tài sản riêng của mỗi bên, chủ sở hữu khối tài sản phát sinh đó được xác định là chủ sở hữu của tài sản gốc, trừ trường hợp hai bên vợ chồng có thỏa thuận khác.
- Đối với tài sản chung không chia (nếu có): Khối tài sản chung không chia vẫn sẽ được xác định là khối tài sản chung của vợ chồng. Việc chia khối tài sản chung sẽ được tiến hành theo thỏa thuận của hai bên hoặc theo yêu cầu của các bên trước Tòa án nên khi các bên chỉ muốn chia một phần mà không phải toàn bộ khối tài sản chung thì khối tài sản chung còn lại sau khi chia vẫn sẽ là tài sản chung của vợ chồng, chủ sở hữu là cả vợ và chồng, quyền và nghĩa vụ của các bên đối với tài sản là ngang nhau.
- Đối với thỏa thuận về tài sản chung xác lập trước khi chia tài sản chung: Pháp luật quy định thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không làm thay đổi quyền và nghĩa vụ về tài sản chung được xác lập trước khi hai bên vợ chồng chia tài sản chung.
Ngoài ra, nếu sau này vợ chồng có nhu cầu chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trên thì sẽ thực hiện theo Điều 41 Luật hôn nhân và gia đình.
1.1.3.2 Chia tài sản chung khi ly hôn
Các nguyên tắc giải quyết việc chia tài sản chung khi ly hôn được quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình và được hướng dẫn bởi Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP như sau:
- Khi ly hôn việc giải quyết tài sản do vợ chồng theo thỏa thuận.
- Trong trường hợp vợ chồng không thoả thuận được thì Toà án giải quyết theo yêu cầu của vợ, chồng.
- Giải quyết tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn cần tuân thủ các nguyên tắc theo quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch.
1.1.3.3 Chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên là đã chết
Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp này được quy định tại Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình được hiểu như sau:
Thứ nhất, người chết có để lại di chúc yêu cầu người khác quản lý di sản thừa kế hoặc những người thừa kế khác thỏa thuận một người đứng ra quản lý di sản thừa kế của mình. Nếu họ không để lại di chúc và những người thừa kế không có thỏa thuận gì về người quản lý di sản thừa kế thì người vợ/chồng còn sống sẽ là người quản lý di sản thừa kế.
Thứ hai, trong trường hợp người vợ/chồng đang quản lý hoặc người khác đang quản lý di sản thừa kế mà có một trong số những người thừa kế yêu cầu chia di sản thừa kế thì phần tài sản chung của vợ chồng theo nguyên tắc là chia đôi. Nhưng trong thời kỳ hôn nhân mà hai người thỏa thuận khác về chế độ tài sản chung thì sẽ thực hiện theo sự thỏa thuận đó. Trong trường hợp việc phân chia di sản thừa kế gây ảnh hưởng tới cuộc sống cũng như gia đình của vợ/chồng còn sống thì họ có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản thừa kế theo quy định của Bộ luật dân sự. Người vợ/chồng còn sống sẽ được hưởng phần di sản thừa kế của người chết để lại trong đó có tài sản chung của vợ chồng đã được chia.
1.2. Tài sản riêng của vợ chồng
1.2.1. Căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ chồng
Theo quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, tài sản riêng của vợ chồng bao gồm các nhóm tài sản sau:
Nhóm 1: Thời điểm có tài sản trước khi kết hôn
Nhóm 2: Thời điểm có tài sản trong khi kết hôn
Như vậy, chúng ta có thể thấy việc xác định tài sản là tài sản riêng của một bên vợ, chồng thì phải dựa vào 03 yếu tố chính gồm: Nguồn gốc tài sản, thời điểm tạo lập tài sản, thỏa thuận xác lập tài sản giữa vợ chồng. Chính vì vậy, việc chứng minh tài sản riêng cũng chính là đi chứng minh 3 yếu tố trên.
Trước tiên, xét đến nguồn gốc của tài sản: Chúng ta phải xác định được tài sản đó có được bắt nguồn từ đâu?
+ Có phải của ông bà tổ tiên để lại hay của bố, mẹ, người thân tặng cho riêng cá nhân, hay là người được thừa kế.
+ Nếu tài sản đó được mua bằng tiền thì tiền đó từ đâu mà có, nếu từ tiền riêng của cá nhân, từ tài sản riêng của cá nhân hay nói cách khác phải xác định tài sản đó có phải là tài sản được hình thành từ tài sản riêng của cá nhân hay không?
+ Đã có cơ quan nào xác nhận là tài sản riêng hay chưa?
Đối với việc chứng minh thời điểm tạo lập tài sản: Phải xác định được thời điểm cá nhân có tài sản là trước hay sau khi đăng ký kết hôn. Về nguyên tắc, tài sản được tạo lập trước thời điểm kết hôn sẽ là tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng.
Tuy nhiên có thể nói, yếu tố quyết định nhất trong việc xác định tài sản riêng của vợ chồng vẫn là “Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng”. Hai yếu tố trên về (1) Nguồn gốc tài sản và (2) Thời điểm tạo lập tài sản cũng sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu các bên có thỏa thuận hợp pháp khác. Cụ thể, đó là các thỏa thuận sau:
+ Thỏa thuận chia tài sản vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (Điều 38 Luật hôn nhân và gia đình);
+ Thỏa thuận chế độ tài sản vợ chồng trước khi kết hôn (Điều 47 Luật hôn nhân và gia đình);
+ Thỏa thuận về tài sản khác theo quy định.
Điều này có nghĩa, cho dù tài sản đó có nguồn gốc và thời điểm rõ ràng được xác định là tài sản riêng của một bên vợ chồng theo quy định tại Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình và bạn cũng có đầy đủ giấy tờ chứng minh đây là tài sản riêng, nhưng nếu trước đó, vợ chồng bạn đã từng ký 1 trong 3 loại thỏa thuận nêu trên một cách hợp pháp thì việc xác định tài sản đó là tài sản chung hay riêng chỉ cần dựa theo thỏa thuận để xác định mà thôi.
1.2.2. Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản riêng.
Quyền sở hữu đối với tài sản riêng của vợ chồng
Quyền của vợ chồng đối với tài sản riêng được quy định tại điều 43 Luật hôn nhân gia đình.
Như vậy, Luật đã khẳng định vợ chồng có quyền có tài sản riêng. Chỉ những tài sản mà vợ hoặc chồng có từ trước khi kết hôn, tài sản mà vợ chồng được thừa kế, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân. Hoặc tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và những hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó, đồ dùng, tư trang cá nhân được coi là tài sản riêng của vợ, chồng.
Việc quy định quyền sở hữu riêng về tài sản của vợ, chồng còn góp phần ngăn chặn hiện tượng kết hôn nhằm vào lợi ích kinh tế mà không nhằm xác lập quan hệ vợ chồng. Ngoài ra vợ chồng cũng có thể nhập tài sản riêng của mình vào tài sản chung theo quy định tài Điều 46 Luật hôn nhân và gia đình.
Khi vợ, chồng chung sống với nhau, họ có thể cùng thỏa thuận trong việc sử dụng tài sản riêng của mỗi bên sao cho có thể khai thác được tốt nhất giá trị sử dungj của tài sản. Thông thường, khi vợ chồng sống chung hòa thuận thì không có sự phân chia trong việc sử dụng tài sản riêng. Có thể tài sản riêng của vợ chồng nhưng đương nhiên được sử dụng để bảo đảm nhu cầu đời sống chung của gia đình. Do đó, việc phân chia tài sản riêng của vợ chồng chỉ có ý nghĩa trong việc định đoạt tài sản. Mặt khác, quyền định đoạt tài sản riêng của vợ chồng có thể bị hạn chế trong trường hợp tài sản riêng của vợ, chồng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản đó phải được sự thỏa thuận của cả hai vợ chồng.
Xuất phát từ tình cộng đồng của quan hệ hôn nhân và vì lợi ích chung của gia đình nên mặc dù pháp luật quy định vợ chồng có quyền có tài sản riêng nhưng trong những trường hợp tài sản chung không đủ để đảm bảo đời sống chung của gia đình thì “vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên” (Khoản 2 Điều 30 Luật hôn nhân và gia đình). Những tài sản đã được chi dùng cho sinh hoạt gia đình thì người có tài sản không được quyền đòi lại nữa.
Nghĩa vụ đối với tài sản riêng của vợ chồng.
Căn cứ pháp lý: Điều 45 Luật hôn nhân gia đình 2014
Nghĩa vụ về tài sản của vợ, chồng phát sinh từ các khoản nợ mà vợ, chồng vay của người khác, sử dụng vào mục đích cá nhân mà không vì mục đích của gia đình hoặc nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của vợ, chồng hay các loại nghĩa vụ khác theo luật định (nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình như cha, mẹ, vợ, chồng, con mà vợ, chồng phải thực hiện).
Về nguyên tắc, nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi bên vợ, chồng được thanh toán từ tài sản riêng của người đó. Nếu tài sản riêng không có hoặc không đủ thì trích chia phần tài sản của vợ, chồng trong khối tài sản chung của vợ chồng (sau khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân) để thực hiện nghĩa vụ. Những quy định này là cơ sở pháp lý cho việc xác định nghĩa vụ được thực hiện bằng tài sản riêng của vợ, chồng.
1.2.3. Nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có thể thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung của vợ chồng. Việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung được quy định tại Điều 46 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Theo như quy định trên, việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ, chồng vào bất cứ lúc nào trong thời kì hôn nhân. Tài sản riêng khi nhập vào tài sản chung cần tuân thủ quy định về hình thức đối với giao dịch liên quan đến tài sản đó:
- Đối với tài sản mà pháp luật không yêu cầu phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng: Để được coi là tài sản chung của vợ chồng, người có tài sản riêng phải lập thành văn bản thể hiện ý chí muốn nhập tài sản của họ. Tài sản riêng có trước hôn nhân nhưng sau đó các bên mặc nhiên sử dụng chung thì vẫn là tài sản riêng của cá nhân chứ không được coi là tài sản chung. Ví dụ như vợ (hoặc chồng) có tài sản riêng là bàn ghế, tủ lạnh, ti vi…, sau đó vợ chồng cùng sử dụng nhưng người có tài sản không lập văn bản thừa nhận đó là tài sản chung thì khi phát sinh tranh chấp, các tài sản trên vẫn là tài sản riêng.
- Đối với tài sản mà pháp luật bắt buộc phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì việc nhập tài sản chung vào tài sản riêng phải lập thành văn bản và phải được công chứng, chứng thực mới được xem là hợp lệ.
- Một trường hợp nữa là tài sản riêng được nhập vào tài sản chung thông qua hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ví dụ như vợ (hoặc chồng) trước khi đăng ký kết hôn có nhà riêng. Sau khi kết hôn, căn nhà được cấp lại sổ mà khi cấp lại đứng tên cả hai vợ chồng và việc đứng tên chung này được sự đồng ý của người có tài sản thì tài sản riêng được xem là tài sản chung. Trường hợp này không cần phải lập văn bản và công chứng, chứng thực.
Khi không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định khác thì việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung đồng nghĩa với việc những nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng sẽ được thực hiện bằng tài sản chung.
2. Đánh giá chế độ tài sản theo luật định trong Luật HN&GĐ 2014
2.1. Tích cực
Đối với tài sản chung của vợ chồng:
- Điều 33 đã được sửa đổi, dựa bổ sung trên cơ sở điều 14 Luật HNGĐ năm 1986 và điều 27 Luật HNGĐ năm 2000: đây là một trong những điểm tiến bộ trong pháp luật hiện hành nằm ở việc bổ sung sự điều chỉnh đối với nhóm tài sản dường như bị “bỏ quên” khi xây dựng luật HNGĐ các năm trước, đó là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng khác của vợ, chồng (những tài sản thuộc sở hữu riêng không phải do việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân). Việc bổ sung thêm nhóm tài sản này giúp các bên quản lý và xác định tài sản chung - riêng dễ dàng hơn.
- Để cụ thể hóa về thực hiện nội dung quyền sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất, luật HNGĐ năm 2014 đã quy định việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng nếu đối tượng của giao dịch là bất động sản, động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu, tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình (Điều 35). Trường hợp vợ, chồng có thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó, thỏa thuận này phải bằng văn bản (Điều 36).
- Luật HNGĐ năm 1986 và luật HNGĐ năm 2000 không quy định nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng, nhưng Luật HNGĐ năm 2014 đã quy định rất cụ thể về vấn đề này, như: nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm; nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu cảu gia đình; nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật Dân sự thì cha mẹ phải bồi thường; nghĩa vụ khác theo quy định của các luật khác có liên quan (Điều 37).
- Đối với việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân ( Điều 38 đến Điều 42) Luật HNGĐ năm 2014 đã quy định việc chia tài sản chung của vợ chồng theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án khi vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng có yêu cầu nếu việc chia tài sản không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc không nhằm trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại; nghĩa vụ thanh toán khi bị tòa án tuyên bố phá sản; nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức; nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với nhà nước; nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của luật này, Bộ luật Dân sự và quy định khác của pháp luật khác có liên quan.
- Điều 39 được bổ sung nhằm nêu rõ thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân; hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã được nêu ở Điều 40; việc chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã được nêu ở điều 41; các trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu được nêu ở điều 42.
Đối với tài sản riêng của vợ chồng:
- Tại khoản 1 điều 43 Luật HNGĐ năm 2014 có một số quy định khác đáng chú ý so với Luật HNGĐ năm 2000 về tài sản riêng của vợ chồng như sau:
+ Luật HNGĐ năm 2014 đã bỏ căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng là “đồ dùng, tư trang cá nhân”. Điều này xuất phát từ nhu cầu giải quyết những bất cập, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật đối với căn cứ không phù hợp nói trên. Bởi, theo quy định của Luật HNGĐ năm 2000 thì cứ là đồ dùng, tư trang cá nhân thì đều là tài sản riêng của vợ, chồng mà không có quy định nào hạn chế giá trị tài sản, không quy định loại tài sản nào được xem là đồ dùng, tư trang cá nhân thuộc sở hữu riêng; bên cạnh đó, pháp luật cũng không xem xét nguồn gốc hình thành đồ dùng, tư trang là tài sản chung hay riêng. Do vậy, có thể hiểu người nào (vợ hoặc chồng) quản lý, sử dụng tài sản đó sẽ được xác định là tài sản riêng của người đó. Với quy định như vậy rõ ràng là không phù hợp, vô tình đã tạo khe hở cho vợ hoặc chồng chuyển dịch trái phép tài sản chung sang tài sản riêng, gây thiệt hại cho bên còn lại.
+ Trước đây, Luật HNGĐ năm 2000 đưa ra những căn cứ xác định tài sản chung, đồng thời lại vừa đưa ra những căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng. Tuy nhiên, thực tế giải quyết tranh chấp vẫn xảy ra những trường hợp tài sản “mập mờ” chưa được xác định là tài sản chung hay tài sản riêng. Do đó, việc Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xác định tài sản hình thành từ tài sản riêng của vợ chồng đó chính là tài sản riêng của vợ, chồng. Đây là một bước tiến bộ, đảm bảo quyền tài sản riêng của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho quá trình áp dụng pháp luật.
+ Luật HNGĐ năm 2014 đã đưa ra căn cứ xác định tài sản riêng còn là các “tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình”. Sở dĩ, pháp luật quy định nhóm tài sản này thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng là dựa vào đặc điểm cũng như tác dụng của nó: đảm bảo được quyền tự do cá nhân cũng như các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Đối với những cá nhân hoặc những gia đình có mức sống khác nhau thì khái niệm đồ dùng thiết yếu sẽ không giống nhau. Việc pháp luật quy định cụ thể như vậy được coi là một bước đột phá tiến bộ, linh hoạt và đã thể hiện rất rõ việc trao quyền tài phán cho cơ quan xét xử (Tòa án) trong việc xem xét để giải quyết vụ việc dựa trên hoàn cảnh cụ thể của từng cá nhân, gia đình khi phát sinh quan hệ pháp luật tranh chấp.
+ Tài sản riêng của vợ, chồng còn gồm các loại tài sản mà theo quy định của pháp luật đó là tài sản riêng của vợ, chồng. Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nhận thức và là cơ sở pháp lý vững chắc trong việc áp dụng pháp luật – điều mà trước đây, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 chưa thể hiện được. Với quy định như vậy đã giúp dẫn chiếu cho việc áp dụng các quy định của văn bản pháp luật khác trong việc xác định cụ thể các loại tài sản, đặc biệt là tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ chồng được hình thành trong thời kỳ hôn nhân.
- Luật HNGĐ năm 2014 cũng đã quy định cụ thể về thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản riêng; nghĩa vụ riêng của vợ chồng về tài sản, như:
+ Điều 44 quy định quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của vợ chồng với tài sản riêng của mình. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản trong trường hợp vợ chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho ai khác quản lý thì người còn lại sẽ quản lý tài sản đó. Việc định đoạt tài sản riêng của một người mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản đó là nguồn sống duy nhất của gia đình phải có sự đồng ý của người đó.
+ Điều 45 quy định về nghĩa vụ của mỗi bên vợ chồng có trước khi kết hôn; nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ chồng; nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình; nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ chồng.
+ Điều 46 quy định quyền nhập tài sản riêng vào tài sản chung của vợ chồng và hạn chế quyền sở hữu của người vợ, người chồng có tài sản riêng vì lợi ích chung của gia
2.2. Hạn chế
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã có nhiều sửa đổi tích cực so với Luật Hôn nhân gia đình 2000, nhưng vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, cả về lý luận và thực tiễn thi hành.
Thứ nhất, liên quan đến việc Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung còn vướng mắc khi thi hành.
Theo quy định tại Điều 34 Luật HNGĐ 2014, liên quan các tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu như ô tô, xe máy thì về nguyên tắc nếu là tài sản chung của vợ chồng thì trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu cũng phải ghi tên cả hai. Tuy nhiên, thực tế triển khai còn một số hạn chế nhất định nên nhiều trường hợp là tài sản chung nhưng cũng chỉ đứng tên một người.
Theo Khoản 1, Điều 44, Luật HNGĐ 2014 thì vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng. Các giao dịch cầm cố, thế chấp đối với tài sản riêng của vợ, chồng sẽ được xác lập, thực hiện bởi chính người vợ, chồng đó. Tuy nhiên, thực tế nhận tài sản bảo đảm tại tổ chức tín dụng có phát sinh nhiều trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản riêng của vợ, chồng nhưng nhà ở và các công trình xây dựng trên đất (chưa được cập nhật quyền sở hữu trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) lại là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân, được tạo lập từ công sức đóng góp chung của cả hai vợ chồng hoặc ngược lại. Nếu tổ chức tín dụng ký kết hợp đồng bảo đảm với riêng người vợ (chồng) thì quá trình xử lý tài sản bảo đảm khi có tranh chấp phát sinh sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí là không thể thực hiện được.
Thực tế, trong trường hợp tổ chức tín dụng ký kết hợp đồng bảo đảm với cả vợ chồng khách hàng, rủi ro nêu trên có thể được hạn chế. Tuy nhiên, theo quy định tại Điểm a, Khoản 1 Điều 118 Luật Nhà ở năm 2014 thì hợp đồng sẽ bị các công chứng viên từ chối công chứng vì cho rằng tài sản bảo đảm là tài sản riêng của vợ, chồng thì chỉ vợ hoặc chồng được ký hợp đồng bảo đảm; phần tài sản là nhà ở và công trình xây dựng trên đất tuy đã hình thành trên thực tế, nhưng chưa được ghi nhận trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nên không thể trở thành đối tượng của hợp đồng bảo đảm.
Thứ hai, về “nguồn sống duy nhất” của gia đình trong quy định chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng: Khoản 4 Điều 44 Luật HNGĐ 2014 quy định: “Trong trường hợp vợ chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt này phải có sự đồng ý của chồng, vợ”. Việc quy định “là nguồn sống duy nhất của gia đình gia đình” là chưa hợp lý, vì nếu nguồn tài sản này chiếm đa số, thậm chí lên tới 99% nguồn sống gia đình thì vẫn chưa được coi là nguồn sống duy nhất. Trong NĐ 126/2014, chỉ có giải thích quy định về Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung (Điều 13) mà không có quy định giải thích, hướng dẫn Điều 44. Vì vậy, cần xem xét lại quy định này.
Thứ ba, quy định về tài sản chung, tài sản riêng còn một số hạn chế, như tiền bồi thường thiệt hại: Ví dụ: Chồng bị một người khác đánh trọng thương và được bồi thường một số tiền để bù đắp thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm; số tiền bồi thường thiệt hại đó là tài sản chung hay tài sản riêng? Tài sản riêng của vợ bị hủy hoại; vợ kiện và được bồi thường một số tiền; tiền đó là tài sản riêng hay tài sản chung? Nhà của cha mẹ chồng cho riêng chồng bị thiêu cháy và được công ty bảo hiểm bồi thường; số tiền đó thuộc loại tài sản nào? Có thể nghĩ rằng trong trường hợp sức khỏe bị xâm hại, tài sản chung của gia đình thường ứng trước chi phí thuốc men và điều trị bệnh; bởi vậy, phần tiền bồi thường thiệt hại dùng để hoàn trả chi phí thuốc men và điều trị bệnh đã được ứng trước không trở thành tài sản chung hay tài sản riêng, mà tự nó vốn là tài sản chung. Phần bù đắp thu nhập bị mất trong thời gian điều trị và dưỡng bệnh thay thế cho thu nhập, do đó, cũng phải là tài sản chung. Thế nhưng, phần bồi thường đối với tổn thất về tinh thần mà chính người bị thiệt hại phải gánh chịu là tài sản riêng hay tài sản chung? Riêng trong các trường hợp tài sản riêng bị hủy hoại và được bồi thường, có lẽ rất khó tìm được lý lẽ cho việc thừa nhận rằng khoản tiền bồi thường đó là tài sản chung. Điều chắc chắn, đó không phải là tài sản được tạo ra; mà cũng không phải là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ một tài sản; càng không phải là một loại thu nhập; nhưng lại phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, vậy đó là tài sản chung hay tài sản riêng?
Hơn nữa, về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản hình thành trong thời kì hôn nhân do một bên đứng tên: thực tiễn cho thấy, chỉ có tài sản rất lớn, rất quan trọng đối với đời sống gia đình thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng mới ghi tên của cả hai vợ chồng. Trong trường hợp này khi có tranh chấp phát sinh, để xác định đó là tài sản riêng hay tài sản chung của vợ chồng thường rất khó khăn. Ví dụ: vợ chồng anh A chị B thỏa thuận (bằng lời nói) dùng toàn bộ số tiền tiết kiệm của chị B trước khi kết hôn (tiền tiết kiệm không gửi ngân hàng mà chị B tự giữ trong két sắt) để mua ô tô cho anh A chạy taxi – giấy chứng nhận quyền sở hữu ô tô đứng tên anh A. Sau một thời gian, A và B ly hôn, có tranh chấp về quyền sở hữu chiếc ô tô. Trong tính huống này, vì chị B tự giữ tiền mà không gửi ngân nên không có giấy tờ chứng minh được đó là tài sản riêng của B. Chiếc ô tô được mua trong thời kì hôn nhân mà không chứng minh được số tiền mua đó là tài sản riêng của B nên theo Khoản 3 Điều 33 LHNGĐ 2014 : “3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.” Việc suy đoán như trên gây ảnh hưởng đến lợi ích của chị B. Ví dụ trên cho thấy điểm chưa rõ ràng trong xác định tài sản chung trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu do một bên đứng tên.
Thứ tư, quy định hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản chung vợ chồng ( theo khoản 1 Điều 33 LHNGĐ 2014) là chưa phù hợp. Sẽ không công bằng nếu hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng là tài sản chung của cả hai vợ chồng trong khi người còn lại (không phải là chủ sở hữu tài sản) không có bất kỳ đóng góp nào vào việc tạo ra hoa lợi, lợi tức đó. Chẳng hạn, tiền lãi từ khoản tiền riêng của người vợ hoặc người chồng gửi trong ngân hàng thì không thể nói rằng người chồng hoặc người vợ còn lại đã có công sức đóng góp. Nhưng theo quy định trên thì khoản lãi này là tài sản chung của hai vợ chồng. Mặt khác, pháp luật lại quy định nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng là nghĩa vụ riêng của một bên vợ, chồng có tài sản. Như vậy, nghĩa vụ về tài sản riêng là nghĩa vụ riêng của bên vợ, chồng sở hữu tài sản nhưng hoa lợi và lợi tức thu được lại là tài sản chung của vợ chồng.
Thứ năm, khó khăn trong xác định trách nhiệm liên đới giữa vợ chồng khi một bên tham gia giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình. Theo quy định tại Điều 27 LHNGĐ 2014, có trường hợp khi một trong hai bên thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng “ nhu cầu thiết yếu của gia đình” thì vợ, chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch này. Mà hiện nay, chưa có văn bản cụ thể nào giải thích rõ ràng như thế nào là “ nhu cầu thiết yếu của gia đình” nên việc xét xử khá khó khăn cũng như dễ mang tính cảm tính.
3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ tài sản theo luật định
Thứ nhất, về căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp tài sản chung của vợ chồng do một bên đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu: Cần bổ sung quy định về căn cứ để xác định rõ tài sản chung - riêng của vợ chồng trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản được tạo lập, hình thành trong thời kỳ hôn nhân do một bên đứng tên. Bên cạnh đó cần có thêm hướng dẫn giải quyết tranh chấp liên quan đến loại tài sản này.
Thứ hai, về nguyên tắc suy đoán tài sản chung, cần có hướng dẫn cụ thể về chứng cứ chứng minh, có thể quy định: Nếu không có chứng cứ hoặc dấu vết về nguồn gốc của tài sản thì khi có tranh chấp, quyền sở hữu riêng của vợ, chồng phải được chứng minh bằng văn bản. Thẩm phán có thể xem xét mọi loại giấy tờ, sổ sách của gia đình cũng như các loại tài liệu của ngân hàng và các hóa đơn thanh toán. Khi không có chứng cứ nào bằng văn bản nữa, thẩm phán cũng có thể chấp nhận lời khai của nhân chứng để xem xét hướng giải quyết hợp lí. Chỉ suy đoán tài sản chung nếu nhận thấy vợ chồng không có khả năng cung cấp chứng cứ bằng văn bản và việc xem xét mọi loại giấy tờ, sổ sách của gia đình, tài liệu của ngân hàng, hóa đơn thanh toán cũng không xác định được đó là tài sản chung hay riêng và không có lời khai của nhân chứng.
Thứ ba, để đảm bảo sự công bằng, pháp luật nên quy định hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản riêng của vợ chồng. Nếu pháp luật đã cho phép vợ, chồng duy trì khối tài sản riêng thì nên cho phép bảo toàn phát triển khối tài sản đó. Tuy nhiên, nếu bên chồng, vợ còn lại chứng minh được đóng góp của mình trong việc tạo ra các hoa lợi, lợi tức đó thì họ được xem xét để phân chia giá trị theo công sức đóng góp của họ.
Thứ tư, cần quy định rõ ràng hơn hoặc có giải thích về một số loại tài sản đặc biệt là tài sản riêng hay chung của vợ chồng để tạo sự thống nhất về quan điểm xét xử giữa các Tòa án trong thực tiễn xử án hôn nhân gia đình.
Thứ tư về quy định chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng kiến nghị sửa quy định “… vợ chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình…” thành “là nguồn sống chủ yếu của gia đình”.
Thứ năm, cần có quy định rõ những nhu cầu nào là nhu cầu thiết yếu của gia đình để làm cơ sở xác định trách nhiệm liên đới của vợ chồng khi một bên tham gia giao dịch dân sự với người thứ ba.