1. Nguyên tắc suy đoán vô tội trong Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của Việt Nam
Năm 1982, Việt Nam chính thức gia nhập hai công ước Quốc tế về quyền con người:
- Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966;
- Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966.
Đây là bước ngoặt lớn trên con đường hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia ở Việt Nam, trong đó có pháp luật tố tụng hình sự. Sản phẩm của nền tư pháp dân chủ và nhân đạo đã được tạo dựng trong pháp luật tố tụng hình sự giai đoạn trước năm 1982, nay lại có nguồn để tiếp tục hoàn thiện.
Các nội dung của nguyên tắc SĐVT vốn đã được ghi nhận rải rác trong các văn bản pháp luật đơn hành ở thời kỳ trước và đến nay, khi xây dựng Bộ luật Tố tụng hình sự đầu tiên (được ban hành vào năm 1988) đã được pháp điển hoá, mà hạt nhân của nó (của nguyên tắc SĐVT) được chính thức ghi nhận tại Điều 10:
"Không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật".
Đây có thể xem là một ví dụ cụ thể và điển hình về tính tiên phong của Luật chuyên ngành so với Luật cơ bản (Hiến pháp). Cụ thể, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 được xây dựng và ban hành trong thời kỳ có hiệu lực của Hiến pháp 1980, bản Hiến pháp mà trong đó hạt nhân của nguyên tắc suy đoán và tội chưa được ghi nhận.
Sự vận động tiếp theo của hành trình hoàn thiện hoá pháp luật Việt Nam theo hướng dân chủ hoá và nhân đạo hoá vì quyền con người đã đưa nguyên tắc SĐVT của tố tụng hình sự thành một trong những quyền cơ bản của người dân Việt Nam vào năm 1992.
2. Suy đoán vô tội và quyền cơ bản của công dân
Trong chương V- Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tại Điều 72 Hiến pháp 1992 đã ghi nhận:
"Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật. Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về mặt vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải chịu xử lý nghiêm minh".
Như vậy, cùng vối việc ghi nhận của Điều 72 (Hiến pháp 1992 có sửa đổi bổ sung năm 2001) như vừa trích dẫn và việc ban hành Nghị quyết số 388/2003/NQ - UBTVQH11 ngày 17 tháng 3 năm 2003 của uỷ ban thường vụ quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra, cũng như việc Quốc hội ban hành Luật Trợ giúp pháp lý số 69/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 (cho người nghèo; người có công với cách mạng; người già cô đơn, người tàn tật và trẻ em không nơi nương tựa; người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn), có thể đánh giá một cách khái quát rằng, trong giai đoạn hiện nay, nguyên tắc SĐVT của tố tụng hình sự đã được pháp luật Việt Nam tiếp thu và ghi nhận ở mức độ đầy đủ nhất và cao nhất của hiệu lực pháp luật so với các giai đoạn trước đây. Điều này cũng có nghĩa rằng phải tiếp tục nâng cao hơn nữa nhận thức lý luận về nguyên tắc SĐVT để có thể hoàn thiện hoá tiếp tục các quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
3. Quan niệm suy đoán vô tội
Theo Từ điển Bách khoa luật học, suy đoán vô tội là trạng thái mà theo đó người bị buộc tội được suy đoán vô tội trong khi việc phạm tội của người đó chưa được chứng minh theo trình tự luật định.
Theo Từ điển Bách khoa đương đại, suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc của nền tố tụng dân chủ, theo đó người bị buộc tội được suy đoán vô tội trong khi việc phạm tội của người đó chưa được chứng minh theo trình tự luật định và chưa được xác định bởi phán quyết đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Suy đoán vô tội theo tiếng Anh là “presumption of innocence”. Thuật ngữ này còn có tên gọi khác là “the right to be presumed innocent”, với nghĩa là quyền được giả định vô tội, theo đó, người bị cáo buộc thực hiện một tội phạm được coi (được giả định) là không có tội cho đến khi cơ quan công tố thuyết phục được Tòa án rằng bị cáo đã phạm tội.
Ngay từ năm 1948, trong văn kiện quan trọng đầu tiên của Liên hiệp quốc về quyền con người là Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người đã khẳng định: “Mỗi bị cáo dù đã bị buộc tội có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo luật pháp tại một phiên tòa xét xử công khai với mọi bảo đảm biện hộ cần thiết”.
Thể chế hóa quy định của Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người, khoản 2 Điều 14 Công ước quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị năm 1966 quy định: “Người bị buộc là phạm một tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi tội của người đó được chứng minh theo pháp luật”. Đồng thời Công ước cũng nêu rõ: người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc nhận mình có tội.
4. Nguyên tắc suy đoán vô tội theo quy định của pháp luật hiện hành
Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định rõ hơn về nguyên tắc suy đoán vô tội: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Trên cơ sở Hiến pháp, Bộ luật TTHS năm 2015 là bộ luật đầu tiên của Việt Nam chính thức quy định: “Nguyên tắc suy đoán vô tội”. Điều 13 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định rõ: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”.
Hiến pháp năm 2013 đánh dấu bước phát triển mới trong quy định về nguyên tắc suy đoán vô tội. Các bản Hiến pháp và pháp luật Việt Nam trước đó quy định về nguyên tắc suy đoán vô tội mới chỉ bao hàm một nội dung (dấu hiệu), đó là không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật. Hay nói cách khác, người nào đó chỉ bị coi là có tội khi có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật. Như vậy, những trường hợp bị kết án oan, phải chấp hành hình phạt, kể cả hình phạt tù thì cũng bị coi là có tội vì đã có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật. Hiện nay, người bị coi là có tội phải có đủ hai điều kiện: thứ nhất, việc phạm tội của người đó phải được chứng minh theo đúng trình tự của pháp luật; thứ hai, phải có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đối với người đó. Như vậy, thiếu một trong hai điều kiện trên thì người bị buộc tội vẫn được “coi” là chưa có tội. Với quy định này, pháp luật mở ra cơ hội cho người dù bị kết án oan vẫn có thể được coi là người chưa có tội vì việc thực hiện hành vi phạm tội chưa được chứng minh theo đúng trình tự luật định mà việc kết tội được thực hiện sai pháp luật, trong đó có cả trường hợp mớm cung, ép cung, dùng nhục hình bị pháp luật nghiêm cấm.
Bên cạnh đó, Bộ luật TTHS năm 2015 còn bổ sung thêm quy định, khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội. Đây vừa là nội dung, vừa là cách thức thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội.
Pháp luật TTHS Việt Nam quy định: Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Như vậy, suy đoán vô tội được áp dụng suốt trong quá trình TTHS. Có tài liệu nêu lên rằng, nguyên tắc suy đoán vô tội tồn tại trong tất cả các giai đoạn của quá trình TTHS, ngoài giai đoạn thi hành án phạt tù.
Điều tra viên, Kiểm sát viên có nghĩa vụ điều tra, xác minh, thu thập, phân tích, đánh giá chứng cứ, chứng minh tội lỗi của người bị buộc tội nhưng những chứng cứ khách quan về buộc tội trong giai đoạn điều tra không tạo cho việc thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội dừng lại. Suy đoán vô tội vẫn tiếp tục chừng nào chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
5. Suy đoán vô tội và chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự
Suy đoán vô tội có nội dung quan trọng và trọng tâm là bảo vệ chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự và lợi ích của người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, phản ánh bản chất nhân văn, nhân đạo của pháp luật dân chủ và pháp quyền nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, loại trừ việc buộc tội và kết án thiếu căn cứ. Do vậy, trong quá trình tiến hành tố tụng các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như người tiến hành tố tụng phải nghiêm túc tuân thủ, tôn trọng và chấp hành theo nguyên tắc này để tránh việc oan sai đối với những công dân vô tội. Nguyên tắc mở ra một định hướng tích cực hơn và được coi là nguyên tắc “vàng” trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hiện nay.
Là nguyên tắc, tư tưởng pháp lý tiến bộ và văn minh – thành tựu lớn của khoa học pháp lý trong chứng minh và bảo vệ quyền con người trong TTHS; suy đoán vô tội là một nguyên tắc có ý nghĩa chính trị to lớn, vượt ra ngoài phạm vi và nội dung pháp lý của nó nhằm ghi nhận địa vị của con người, tự do và dân chủ, ghi nhận mối liên hệ giữa tự do và trách nhiệm, dân chủ và pháp luật trong xã hội. Vì thế, việc ghi nhận cụ thể, đầy đủ nguyên tắc suy đoán vô tội như là nguyên tắc cơ bản là đòi hỏi cấp thiết của luật TTHS trong nhà nước pháp quyền. Suy đoán vô tội được quốc tế thừa nhận như giá trị chung của văn minh nhân loại phải được nghiên cứu và ghi nhận vềmặt lập pháp, đã và đang được nhiều quốc gia xác định là nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTHS.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)