- 1. Những vấn đề chung về chính sách thương mại quốc tế
- 1.1. Khái niệm về chính sách thương mại quốc tế
- 1.2. Nhiệm vụ của chính sách thương mại quốc tế.
- 1.3. Nội dung các công cụ của chính sách thương mại quốc tế.
- 2. Những tác động của môi trường chính trị trong nước đến chính sách thương mại quốc tế.
- 3. Đánh giá việc hoàn thiện các chính sách thương mại của Việt Nam.
- 3.1. Đối với các công cụ thuế quan.
- 3.2. Đối với các công cụ phi thuế quan.
1. Những vấn đề chung về chính sách thương mại quốc tế
1.1. Khái niệm về chính sách thương mại quốc tế
Chính sách thương mại quốc tế (tiếng Anh: International trade policy) là một hệ thống những quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc, công cụ và biện pháp thích hợp mà Nhà nước sử dụng để điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế của mỗi quốc gia trong một thời kì nhất định, nhằm đạt được các mục tiêu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó.
Môi trường kinh tế thế giới còn chịu sự chi phối và tác động của nhiều mối quan hệ chính trị và các mục tiêu phi kinh tế khác cho nên chính sách thương mại quốc tế của mỗi quốc gia cũng phải đáp ứng nhiều mục tiêu khác nhau.
1.2. Nhiệm vụ của chính sách thương mại quốc tế.
Nhiệm vụ của chính sách thương mại quốc tế của mỗi quốc gia có thể thay đổi qua mỗi thời kì nhưng đều có mục tiêu chung là điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế theo chiều hướng có lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Nhiệm vụ này thể hiện trên hai mặt sau đây:
- Một là, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước xâm nhập và mở rộng thị trường ra nước ngoài, tham gia mạnh mẽ vào phân công lao động quốc tế và mậu dịch quốc tế, khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế trong nước.
- Hai là, bảo vệ thị trường nội địa, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước đứng vững và vươn lên trong hoạt động kinh doanh quốc tế, đáp ứng yêu cầu tăng cường lợi ích quốc gia.
1.3. Nội dung các công cụ của chính sách thương mại quốc tế.
Theo Krugman và Obstfeld, các công cụ của chính sách thương mại quốc tế có thể được phân chia thành các công cụ thuế quan và phi thuế quan
Hệ thống thuế được xem xét thường bao gồm thuế trực tiếp và thuế gián tiếp. Các vấn đề được xem xét thường bao gồm thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu theo dòng thuế, mức thuế, cơ cấu tính thuế, thuế theo các ngành, lịch trình cắt giảm thuế theo các chương trình hội nhập. Thuế quan trực tiếp là thuế đánh vào hàng hoá nhập khẩu hay xuất khẩu. Các loại thuế này bao gồm thuế theo số lượng, thuế giá trị và thuế hỗn hợp. Thuế gián tiếp tác động tới thương mại như thuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt.
Các hàng rào phi thuế quan bao gồm trợ cấp xuất khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, các yêu cầu về nội địa hoá, trợ cấp tín dụng xuất khẩu, quy định về mua sắm của chính phủ, các hàng rào hành chính, khuyến khích doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài xuất khẩu, khu chế xuất, khu công nghiệp, các quy định về chống bán phá giá và trợ cấp .
Trợ cấp xuất khẩu là khoản tiền trả cho một công ty hay một cá nhân đưa hàng ra bán ở nước ngoài. Trợ cấp xuất khẩu có thể theo khối lượng hay theo giá trị. Hạn ngạch nhập khẩu là sự hạn chế trực tiếp số lượng hoặc giá trị một số hàng hoá có thể được nhập khẩu. Thông thường những hạn chế này được áp dụng bằng cách cấp giấy phép cho một số công ty hay cá nhân. Hạn ngạch có tác dụng hạn chế tiêu dùng trong nước giống như thuế song nó không mang lại nguồn thu cho chính phủ. Hạn ngạch xuất khẩu thường áp dụng ít hơn hạn ngạch nhập khẩu và thường chỉ áp dụng đối với một số mặt hàng.
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là một biến thể của hạn ngạch nhập khẩu. Nó là một hạn ngạch thương mại do phía nước xuất khẩu đặt ra thay vì nước nhập khẩu.
Các yêu cầu về tỷ lệ nội địa hoá là một quy định đòi hỏi một số bộ phận của hàng hoá cuối cùng phải được sản xuất trong nước. Bộ phận này được cụ thể hoá dưới dạng các đơn vị vật chất hoặc các điều kiện về giá trị.
Trợ cấp tín dụng xuất khẩu cũng giống như trợ cấp xuất khẩu nhưng dưới hình thức một khoản vay có tính chất trợ cấp dành cho người mua.
Quy định về mua sắm của chính phủ hay doanh nghiệp có thể hướng việc mua sắm trực tiếp vào các hàng hoá được sản xuất trong nước ngay cả khi những hàng hoá đó đắt hơn hàng nhập khẩu.
Các hàng rào hành chính và kỹ thuật là việc các chính phủ sử dụng các điều kiện về tiêu chuẩn y tế, kỹ thuật, an toàn và các thủ tục hải quan để tạo nên những cản trở thương mại.
Các quy định về chống bán phá giá và trợ cấp là các thủ tục, biện pháp áp dụng đối với các hàng hoá bị coi là bán phá giá hay trợ cấp.
Các khu công nghiệp và khu chế xuất tạo điều kiện cho các nhà sản xuất vì nó có những ưu đãi như tiền thuê đất, hệ thống cơ sở hạ tầng (điện, nước, viễn thông) hiệu quả và đáng tin cậy, thủ tục hành chính thuận lợi.
2. Những tác động của môi trường chính trị trong nước đến chính sách thương mại quốc tế.
Hiện nay, ngày nay càng khó khăn khi phải phân tách riêng biệt những thành tố trong nước và quốc tế của các vấn đề chính sách. Với nhiều vấn đề trong lịch trình của các hiệp định quốc tế hay diễn đàn quốc tế, kết quả thường dự báo việc tranh cãi chính trị trong nước. Chính vì thế cũng không ngạc nhiên khi các nhà hoạch định chính sách quốc gia thường cố gây ảnh hưởng đến quá trình tạo ra quyết định trên lĩnh vục quốc tế. Ngược lại, điều này luôn luôn có liên quan đến các cuộc thảo luận quốc tế, nó sẽ ngày càng bị ảnh hưởng bởi môi trường chính trị trong nước tại các Quốc gia Thành viên.
Các nhà hoạch định chính sách trong nước thực tế có thể tác động thế nào tới những quyết định và thảo luận quốc tế cũng biến động từ nước này đến nước khác, tuỳ thuộc vào hệ thống chính trị và văn hoá. Tại một số nước, bản thân họ chỉ có thể thông báo về “sản phẩm” cuối cùng, trong khi ở những nước khác, ảnh hưởng có thể phát sinh tại nhiều giai đoạn khác nhau (đàm phán, chấp nhận/phê chuẩn, thực hiện). Những con đường để truyền đạt quan điểm công luận quốc gia ở mỗi nước cũng khác nhau: tại đa số quốc gia, quốc hội là một kênh thông tin chính thức truyền thống, nhưng nhiều cách trực tiếp hơn (vận động hành lang, báo chí, điều tra dư luận) đang trở nên quan trọng. Một số quốc gia thậm chí còn đã thiết lập một cơ chế tham vấn chính thức và bản chính thức về các vấn đề quốc tế, trong đó gồm cả các lợi ích quan trọng trong nước.
Tác động chung của những ảnh hưởng trong nước đến các cuộc đàm phán và hiệp định quốc tế rõ ràng phụ thuộc vào một “tay chơi” quốc tế lớn như Hoa Kỳ hay một quốc gia nhỏ tham gia. Tuy nhiên, bất luận tầm quan trọng của một nước liên quan như thế nào, những tác động đáng kể có thể là:
Thứ nhất, sự tín nhiệm của những người đại diện một quốc gia có thể bị tác động bởi mức độ người đó được xem là có năng lực “bày tỏ” việc thừa nhận một hiệp định hoặc một quyết định quốc tế. Điều đó không chỉ là một vấn đề uy tín cá nhân; nó có thể có tác động thực sự đến kết quả mà một nhà đàm phán có thể giành được. Những hạn chế đối với các nhà đàm phán có thể xuất phát từ hiến pháp của một nước hoặc từ môi trường chính trị. Ví dụ ở những nước, các hiệp định quốc tế hay từng phần hiệp định đó phụ thuộc vào trưng cầu dân ý toàn quốc (Thuy sĩ), hoặc quốc hội có thể ràng buộc một so phần nhất định của hiệp định (Hoa Kỳ)
Thứ hai, các cuộc đàm phán thường có kết quả có lợi và bền vững cho tất cả các bên tham gia. Do đó, những hạn chế gay gắt mà các nhà đàm phán phải đối mặt cần được các bên khác xem xét. Tại những tình huống khi đại diện của một nước bị ép buộc đi đến chấp nhận một hiệp định không thoả đáng chống lại lý lẽ đầy đủ của hợ cho thấy rằng các kết quả do ép buộc hiếm khi đáp ứng lợi ích của bên “thắng” hoặc bên “thua” trong các cuộc đàm phán.
Thứ ba, tại những nước bảo đảm cho các nhà hoạch định chính sách trong nước một quyền lực rộng rãi trong việc công nhận hiệp định quốc tế, các thông tin thường xuyên về tiến trình đàm phán là đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, nhu cầu về thông tin cần phải được cân bằng đối với nhu cầu duy trì mức độ bảo mật về các vấn đề nhạy cảm suốt quá trình đàm phán.
Thứ tư, trong việc công nhận các hiệp định thương mại quốc tế, cần thừa nhận rằng các hiệp định mở của thâm nhập thị trường thường đưa lại cho một vài nhà điều hành kinh tế những cơ hội khuyếch trương thương mại trong khi gây sức ép với những người khác. Việc nhấn mạnh lợi ích toàn thể của một hiệp định đối với đất nước với tư cách là một tổng thể, đi kèm với các biện pháp chuyển đổi để làm dịu tác động tới những ngành đang đối mặt trước một thách thức mới, thường thể hiện là một giải pháp đối với các vấn đề nan giải này..
3. Đánh giá việc hoàn thiện các chính sách thương mại của Việt Nam.
3.1. Đối với các công cụ thuế quan.
Một là, hệ thống thuế được thay đổi phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia. Điều này thể hiện ở việc biểu thuế hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam đã ngày càng phù hợp hơn với Hệ thống phân loại hàng hoá và mã số của Tổ chức hải quan thế giới và Hệ thống biểu thuế quan hài hoà trong 92 ASEAN (AHTN). Bên cạnh đó, các danh mục cắt giảm thuế mà Việt Nam đề xuất đã phù hợp với các cam kết của Việt Nam trong ASEAN, hiệp định khung Việt Nam – EU, hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, chương trình thu hoạch sớm EHP (ASEAN – Trung Quốc) ở cả mức thuế và số mặt hàng tính thuế. Bộ Thương mại (mà cụ thể là Vụ Chính sách thương mại đa biên) đã tham gia cùng Bộ Tài chính trong việc đưa ra danh mục cắt giảm phù hợp với cam kết của Việt Nam trong các tổ chức và hiệp định nêu trên.
Hai là, thông tin về việc cắt giảm thuế ngày càng rõ ràng hơn. Thông tin về việc cắt giảm thuế được cập nhật thường xuyên và phổ cập tới toàn bộ doanh nghiệp và những đối tượng quan tâm. Chẳng hạn những văn bản cập nhật mới nhất về thuế, thủ tục hải quan, chính sách ưu đãi có thể tìm thấy tại các trang web của Quốc hội (http://www.luatvietnam.com.vn), trang web của Bộ Thương mại (http://www.mot.gov.vn), trang web của Tổng cục hải quan (http://www.customs.gov.vn).
Ba là, việc thay đổi, điều chỉnh thuế suất còn đột ngột. Trong khuôn khổ quyền hạn, Bộ Tài chính được phép đề xuất thay đổi thuế suất với điều kiện việc thay đổi này phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp cho rằng họ không thể dự đoán được khi nào thuế suất sẽ thay đổi và mức thuế suất sẽ thay đổi trong khoảng thời gian nào.. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền và chuẩn bị cho việc ban hành, điều chỉnh các chính sách còn kém. Bên cạnh đó, việc áp dụng linh hoạt mức áp thuế như điều chỉnh theo yêu cầu của các doanh nghiệp trong ngành, của hiệp hội, của các bộ ngành còn chưa được sử dụng một cách hệ thống hiện đại hoá” và “Hoạt động xuất, nhập khẩu và hội nhập kinh tế quốc tế” trong bản Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006- 2010.
3.2. Đối với các công cụ phi thuế quan.
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, việc sử dụng các biện pháp phi thuế quan trong chính sách thương mại quốc tế không phải là một biện pháp lâu dài. Chẳng hạn, trong khuôn khổ WTO, các Chính phủ phải minh bạch hoá chính sách và chuyển dần việc quản lý bằng các công cụ phi thuế quan sang thuế quan. Hiện tại, ở Việt Nam, hệ thống các công cụ phi thuế quan chưa được Bộ Thương mại hay bất cứ cơ quan nào thống kê theo dõi và điều chỉnh.
Các công cụ phi thuế quan đang do các cơ quan khác nhau quản lý nhưng không trực tiếp được sử dụng như một công cụ của chính sách thương mại quốc tế. Chẳng hạn, Bộ Thương mại quản lý hạn ngạch, hạn ngạch thuế quan, các biện pháp hành chính. Bộ Công nghiệp, Bộ Khoa học và Công nghệ quy định tỷ lệ nội địa hoá. Tín dụng xuất khẩu lại do Quỹ hỗ trợ phát triển (DAF) và các ngân hàng thực hiện. Việc quản lý các khoản mua sắm của Chính phủ do Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Tài chính quản lý. Các biện pháp hành chính được áp dụng phụ thuộc vào quyền hạn và chức năng của các cơ quan chuyên ngành. Thủ tục cấp giấy phép xuất khẩu và cấp giấy chứng nhận xuất xứ mẫu B còn tách rời dẫn đến doanh nghiệp mất thời gian khi thực hiện thủ tục xuất khẩu. Quy chế hỗ trợ tín dụng xuất khẩu chưa có định hướng ưu tiên cho các doanh nghiệp có uy tín, có tình hình tài chính lành mạnh. Hơn nữa, diện các mặt hàng được hưởng ưu đãi về tín dụng xuất khẩu còn dàn trải. Bên cạnh đó, vai trò của các Hiệp hội ngành hàng chưa được thể hiện trong việc bảo lãnh hay giới thiệu các đơn vị thành viên vay vốn tín dụng xuất khẩu.
Công việc theo dõi, điều chỉnh các công cụ phi thuế quan gặp khó khăn do quy định phải xem xét xem biện pháp đó có hạn chế thương mại hay không.
Thông tin về việc nước ngoài áp dụng các biện pháp phi thuế đối với hàng hoá Việt Nam cũng chưa được thực hiện một cách hệ thống. Việt Nam chưa xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin về các biện pháp phi thuế cũng như chưa xây dựng danh mục các mặt hàng dễ bị áp dụng các biện pháp phi thuế. Việc áp dụng các biện pháp phi thuế của các quốc gia bạn hàng đối với hàng hoá Việt Nam là việc chắc chắn xảy ra khi Việt Nam tham gia ngày càng sâu rộng hơn vào thương mại quốc tế. Chẳng hạn trong trường hợp các hàng hoá của Việt Nam bị cáo buộc phá giá, Việt Nam đã lúng túng trong giải quyết và phòng ngừa. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền những vấn đề liên quan đến việc đối phó với các biện pháp phi thuế mà nước ngoài có khả năng áp dụng đối với hàng hoá Việt Nam chưa tốt.
Việt Nam có xu hướng hạn chế hoàn toàn việc cấp phép nhập khẩu. Đây là việc làm phù hợp với các quy định của WTO song việc loại bỏ theo lộ trình như thế nào chưa được chính thức công bố cho cộng đồng doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Việt Nam còn ít sử dụng các biện pháp như hạn ngạch thuế quan, các khoản mua sắm của chính phủ. Việc sử dụng các khoản tín dụng xuất khẩu, thưởng xuất khẩu, ... đang được điều chỉnh. Tuy nhiên, đối tượng chủ trì các chương trình xúc tiến thương mại còn giới hạn ở một số ít cơ quan.
Bộ Thương mại hiện đã có những biện pháp phối hợp với các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài và cơ quan đại diện thương mại của Việt Nam ở nước ngoài. Tuy nhiên, việc phối hợp với các hiệp hội ngành hàng và các cơ quan đại diện ngoại giao và xúc tiến thương mại của nước ngoài ở Việt Nam còn chưa được chú trọng.