- 1. Thẩm quyền của Chính phủ trong Lĩnh vực kinh tế - Tài chính
- 2. Thẩm quyền của Chính phủ trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, quốc phòng và an ninh
- 3. Thẩm quyền của Chính phủ trong lĩnh vực đối ngoại
- 4. Thẩm quyền của Chính phủ trong lĩnh vực lập pháp và thi hành luật
- 5. Thẩm quyền của Chính phủ đối với tình trạng khẩn cấp
- 6. Thẩm quyền khác của Chính phủ
- 7. Thẩm quyền chung của Chính phủ Liên bang Nga:
CƠ SỞ PHÁP LÝ
Hiến pháp nước Cộng hòa Ba Lan 1997
Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993
Hiến pháp Italia 1947
Hiến pháp Nhật Bản 1946
hiến pháp cộng hòa Xéc năm 1992
Đạo luật Liên bang Áo năm 1970
NỘI DUNG TƯ VẤN
Hiến pháp của đa số các nước chỉ quy định thẩm quyền chung của Chính phủ (chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và đối tượng quản lý chung của Chính phủ). Trong lĩnh vực quản lý nhà nước, thẩm quyền của Chính phủ bao trùm toàn bộ những vấn đề của đời sống nhà nước và xã hội nếu vấn đề đó không thuộc về quyền hạn của các cơ quan nhà nước khác. Hiến pháp của một số nước lại quy định quyền hạn cụ thể của Chính phủ. Ví dụ, theo Điều 146 Hiến pháp 'Cộng hòa Ba Lan năm 1997 Hội đồng bộ trưởng (Chính phủ) Ba Lan có quyền hạn sau: Thực hiện chính sách đối nội và đối ngoại của nước Cộng hòa Ba Lan; thực hiện chính sách quốc gia nếu chính sách đó không thuộc cơ quan nhà nước khác hay cơ quan tự quản địa phương; lãnh đạo bộ máy hành chính; bảo đảm việc thi hành luật; ban hành nghị định; phối hợp và giám sát hoạt động của các cơ quan thuộc bộ máy hành chính quốc gia; bảo vệ ngân khố quốc gia; trình dự toán ngân sách nhà nước; lãnh đạo việc thực hiện ngân sách nhà nước; trình quyết toán ngân sách nhà nước; bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; bảo đảm sự toàn vẹn của quốc gia; thống nhất quản lý quan hệ đối ngoại với các nước các tổ chức quốc tế; ký hiệp định quốc tế, phê chuẩn, hủy bỏ các hiệp định quốc tế; thống nhất quản lý công tác phòng thủ đất nước, thi hành luật nghĩa vụ quân sự; xây dựng quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội đồng bộ trưởng.
Tóm lại, Chính phủ của các nước có thẩm quyền trong các lĩnh vực sau:
1. Thẩm quyền của Chính phủ trong Lĩnh vực kinh tế - Tài chính
Chính phủ soạn thảo ngân sách nhà nước và trình để Nghị viện quyết định, đồng thời tổ chức và bảo đảm việc thực hiện ngân sách đã được thông qua; soạn thảo và trình người đứng đầu nhà nước hoặc Nghị viện dự thảo về chính sách tài chính, thuế; quản lý các ngành kinh tế quốc dân; quản lý tài sản thuộc sở hữu nhà nước; vạch định và xây dựng các chương trình dự báo về sự phát triển kinh tế - Xã hội, đồng thời bảo đảm việc thực hiện chương trình phát triển kinh tế - xã hội đã được Nghị viện hoặc người đứng đầu nhà nước thông qua.
2. Thẩm quyền của Chính phủ trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, quốc phòng và an ninh
Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện chính sách quốc gia trong các lĩnh vực văn hóa, khoa học, giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, môi trường; phối họp hoạt động của các cơ quan cấp dưới thuộc nhánh quyền hành pháp trong việc thực hiện các chính sách xã hội, bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, bảo vệ môi trường, bảo đảm quyền lao động của công dân.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của chính phủ là thực hiện các biện pháp nhằm bảo đảm nền quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm quyền và tự do của công dân; thực hiện công tác đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm.
3. Thẩm quyền của Chính phủ trong lĩnh vực đối ngoại
Trong phạm vi hiến định và luật định Chính phủ thực hiện chính sách đối ngoại; tham gia ký kết các hiệp định quốc tế với các nước khác hoặc với các tổ chức quốc tế, đồng thời tổ chức việc thực hiện các hiệp định đã được ký kết hoặc đã được phê chuẩn (theo đoạn 2,3 Điều 73 Hiến pháp Nhật Bản năm 1946, Nội các Nhật Bản lãnh đạo công tác đối ngoại, tham gia ký kết các hiệp định quốc tế. Các hiệp định này phải được Nghị viện phê chuẩn mới có hiệu lực).
Ngoài ra Chính phủ của một số nước còn đại diện cho đất nước tham gia đàm phán, ký kết, giải quyết các vấn đề chiến tranh và hòa bình. Ví dụ, cố Thủ tướng Ixraen I.Rabin là người đại diện cho nhà nước Ixraen ký kết với chủ tịch PLO Araphát hiệp định hòa bình mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử giữa hai nhà nước nói riêng và khu vực Trung Đông nói chung.
Chính phủ tham gia vào việc bổ nhiệm đại sứ đặc mệnh toàn quyền và các đại diện khác của đất nước trong các tổ chức quốc tế. Một số nước quyền bổ nhiệm đại sứ đặc mệnh toàn quyền và các đại diện khác thuộc thẩm quyền của người đứng đầu nhà nước, thì Chính phủ lựa chọn nhân sự trình để người đứng đầu nhà nước bổ nhiệm. Ví dụ: Khoản 4 Điều 200 Hiến pháp Bồ Đào Nha năm 1978 trao cho Chính phủ quyền bổ nhiệm đại sứ đặc mệnh toàn quyền và các đại sứ khác; theo Hiến pháp Tây Ban Nha năm 1978 Vua Tây Ban Nha bổ nhiệm các đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước Tây Ban Nha tại các nước khác theo đề nghị của Chính phủ Tây Ban Nha.
4. Thẩm quyền của Chính phủ trong lĩnh vực lập pháp và thi hành luật
Chính phủ tham gia tích cực vào hoạt động lập pháp trên cơ sở quyền sáng kiến pháp luật mà Hiến pháp trao cho. Ở những nước có chính thể đại nghị và một số nước có chính thể hỗn hợp, Chính phủ dựa vào sự ủng hộ của đa số thành viên Nghị viện (Hạ nghị viện) không những tự xác định chương trình hoạt động của mình mà còn tích cực tham gia vào hoạt động lập pháp. Theo số liệu của cuốn “Nghị viện trên thế giới", năm 1986 trong số 69 nước thì có 33 chính phủ đệ trình 90 đến 100% số dự án luật, 22 chính phủ - 50% số dự án luật. Ở những nước có chính thể cộng hòa tổng thống Chính phủ tác động đến quá trình lập pháp của Nghị viện không những bằng quyền sáng kiến pháp luật mà còn bằng quyền phủ quyết của Tổng thống.
Hiến pháp của một số nước, trong một số trường hợp nhất định và theo những nguyên tắc nhất định, trao cho Chính phủ ban hành văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực như luật theo thủ tục “lập pháp ủy quyền”. Ví dụ, Điều 82 Hiến pháp Tây Ban Nha trao cho Chính phủ quyền ban hành đạo luật tạm thời dưới hình thức sắc lệnh - luật và một số văn bản khác có hiệu lực như luật. Những văn bản này chỉ được ban hành theo những vấn đề mà Nghị viện Tây Ban Nha ấn định trước đó. Việc Chính phủ được ủy quyền ban hành văn bản có hiệu lực như luật phải được ghi nhận trong một đạo luật riêng. Đạo luật này quy định cụ thể mục đích và giới hạn của quyền hạn được trao, những nguyên tắc, chuẩn mực buộc phải tuân thủ trong quá trình thực hiện quyền lập pháp ủy quyền. Sau khi Chính phủ ban hành, những văn bản nói trên lập tức phải được trình lên để Nghị viện chuẩn y (Điều 86).
Theo Điều 76, 77 Hiến pháp nước Cộng hòa Italia năm 1947 Chính phủ Italia có quyền ban hành sắc lệnh - pháp luật và sắc lệnh - luật, sắc lệnh - pháp luật được ban hành trên cơ sở đạo luật ủy quyền của Nghị viện Italia theo một số vấn đề nhất định và có hiệu lực như luật, sắc lệnh - luật là văn bản tạm thời có hiệu lực như luật được chính phủ ban hành “trong trường hợp cần thiết và cấp bách” mà không cần phải được sự đổng ý trước hay sự ủy quyền của Nghị viện. Tuy nhiên, sau khi ban hành, Chính phủ phải lập tức đệ trình sắc lệnh - luật lên để Nghị viện chuẩn y.
Một trong những nhiệm ỵụ quan trọng của Chính phủ là đưa các quy phạm pháp luật vào đời sống xã hội và nhà nước. Để thực hiện nhiệm vụ này Chính phủ ban hành các vãn bản dưới luật nhằm cụ thể hóa việc thực hiện các quy phạm của Hiến pháp và luật. Những văn bản này được gọi là nghị quyết, Nghị định (Ba Lan, Bungari, Liên bang Nga), lệnh thừa hành, kế hoạch cải tổ, quy chế (Mỹ).
5. Thẩm quyền của Chính phủ đối với tình trạng khẩn cấp
Chính phủ của đa số các nước có quyền hạn đặc biệt trong việc quyết định tình trạng khẩn cấp. Ví dụ, theo Điều 116 Hiến pháp Tây Ban Nha, Chính phủ Tây Ban Nha có quyền thiết lập trên đất nước chế độ đặc biệt gắn với việc ban bố tình trạng khẩn cấp, tình trạng nguy hiểm. Tình trạng khẩn cấp được ban bố bởi sắc lệnh của Chính phủ với sự đồng ý trước của Đại hội đại biểu (Hạ nghị viện). Tình trạng nguy hiểm được ban bố bởi sắc lệnh của Chính phủ mà không cần phải nhận được sự cho phép trước của Đại hội đại biểu. Thời hạn của tình trạng nguy hiểm kéo dài 15 ngày (nếu không được Đại hội đại biểu gia hạn); theo hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức năm 1949, trường họp lãnh thổ của bang nào bị đe dọa an ninh mà không có khả năng tự vệ, Chính phủ liên bang có quyền huy động lực lượng cảnh sát của bang đó và của các bang khác, cũng như các lực lượng biên phòng liên bang tham gia loại trừ nguy cơ nói trên. Chính phủ liên bang có thể yêu cầu Viện Bunđextác xác nhận lãnh thổ Liên bang bị đe dọa xâm lược hay trực tiếp bị đe dọa quân sự. Nếu viện Bunđextác tán thành thì ủy ban hỗn họp (do viện Bunđextác thành lập) sẽ ban bố tình trạng phòng thủ đất nước khi đó quyền Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang sẽ thuộc về thủ tướng liên bang.
6. Thẩm quyền khác của Chính phủ
Ngoài những thẩm quyền nói trên, chính phủ còn có những thẩm quyền khác. Ví dụ, Hiến pháp Tây Ban Nha trao cho Chính phủ quyền hạn quan trọng trong lĩnh vực bảo đảm pháp chế. Một trong số quyền hạn này là quyền đề cử ứng cử viên vào chức Viện trưởng viện công tố cho Nhà vua bổ nhiệm. Chính phủ của một số nước còn công bố các đạo luật được Nghị viện thông qua, quyết định ân xá, giảm án tù v.v...
7. Thẩm quyền chung của Chính phủ Liên bang Nga:
Theo quy định của Luật tổ chức Chính phủ Liên bang Nga nãm 1997 Chính phủ có các thẩm quyền chung sau đây:
- Tổ chức thực hiện chính sách đối nội, đối ngoại của Liên bang;
- Lãnh đạo và kiểm tra hoạt động công việc của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ và các cơ quan khác của chính quyền hành pháp;
- Quy định quy chế hoạt động, biên chế cán bộ, tổ chức bộ máy, chi phí ngân sách của các Bộ, các cơ quan ngang bộ;
- Quy định quy chế tổ chức và hoạt động, biên chế cán bộ, bộ máy, chi phí ngân sách của các cơ quan hành pháp địa phương;
- Bổ nhiệm và miễn nhiệm các Thứ trưởng và lãnh đạo của các cơ quan hành pháp Liên bang;
- Bãi bỏ các văn bản của các cơ quan hành chính địa phương nếu các văn bản này trái với văn bản của Chính phủ, trái với các văn bản luật hoặc trái với Hiến pháp.
- Thành lập các cơ quan tư vấn và điều hoà hoạt động của hệ thống chính quyền hành pháp của Liên bang Nga.
Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!