- 1. Quy định chung về thị trường ngoại hối
- 2. Pháp luật điều chỉnh hoạt động ngoại hối
- 2.1 Pháp luật điều chỉnh đổi với giao dịch vãng lai
- 2.2 Pháp luật điều chỉnh đổi với giao dịch vốn
- 2.3 Pháp luật điều chỉnh đối với hành vi sử dụng ngoại hoi trên lãnh thổ Việt Nam
- 2.4 Pháp luật điều chỉnh hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hổi
- 3. Giao dịch ngoại hối
- 4. Những ai có thể giao dịch ngoại hối?
- 5. Thị trường ngoại hối có những đặc điểm gì?
1. Quy định chung về thị trường ngoại hối
Các loại giấy tờ có giá và các công cụ thanh toán bằng tiền nước ngoài (trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ti, cổ phiếu...), vàng tiêu chuẩn quốc tế... Do phương thức lưu thông, chuyển nhượng các loại ngoại hối khác nhau nên có nhiều bộ phận thị trường trong thị trường ngoại hối như thị trường ngoại tệ, thị trường hối phiếu, thị trường vàng tiêu chuẩn quốc tế... Căn cứ vào phạm vi của quốc gia, thị trường ngoại hối được phân chia làm hai loại: thị trường ngoại hối trong nước và thị trường ngoại hối quốc tế. Thị trường ngoại hối trong nước là loại thị trường do một quốc gia quản lí, kiểm soát và hoạt động theo pháp luật của quốc gia đó. Thị trường ngoại hối quốc tế do một số Chính phủ hoặc một số tổ chức tài chính, ngân hàng thành lập. Các thị trường ngoại hối có quy mô giao dịch lớn trên thế giới là thị trường ngoại hối Niu Yook, Luân Đôn, Zuyrich, Franfuôc.
Ở Việt Nam hiện nay, Nhà nước chưa quy định về tổ chức và hoạt động của thị trường ngoại hối mà mới chỉ quy định về tổ chức và hoạt động của các bộ phận trong thị trường ngoại hối như thị trường ngoại tệ, thị trường phát hành và thanh toán quốc tế... Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2003) quy định Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức, điều hành thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và thị trường ngoại hối trong nước.
2. Pháp luật điều chỉnh hoạt động ngoại hối
2.1 Pháp luật điều chỉnh đổi với giao dịch vãng lai
Giao dịch vãng lai là giao dịch giữa người cư trú với người. Có thể xem thêm khái niệm về người cư trú và người không cư trú tại khoản 2, khoản 3 Điều 4 Văn bản hợp nhất số 07/2013/VBHN-VPQH ngày 11/7/2013 về Pháp lệnh ngoại hối.
Nghị định này không quy định cụ thể giao dịch vãng lai bao gồm những giao dịch nào. Đây có thể xem là một điểm chưa hợp lí của Nghị định số 70/2014/NĐ-CP vì chính điều này sẽ dẫn đến những khó khăn trong việc xác định đâu là giao dịch vãng lai và đâu là giao dịch vốn để từ đó áp dụng pháp luật cho phù hợp và chính xác.
Có thể nhận thấy mặc dù Nghị định số 70/2014/NĐ-CP không quy định cụ thể giao dịch vãng lai bao gồm những giao dịch nào nhưng Nghị định này vẫn có những quy định khá chi tiết về từng loại giao dịch vãng lai theo cách phân loại trước đây của Nghị định số 160/2006/NĐ-CP. Cụ thể là:
Thứ nhất, đối với giao dịch thanh toán và chuyển tiền liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ: Theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 70/2014/NĐ-CP, người cư trú có nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ hoặc từ các nguồn thu vãng lai khác ở nước ngoài phải chuyển vào tài khoản ngoại tệ mở tại tổ chức tín dụng được phép tại Việt Nam phù hợp với thời hạn thanh toán của hợp đồng hoặc các chứng từ thanh toán, trừ một số trường hợp được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét cho phép giữ lại một phần hoặc toàn bộ nguồn thu ngoại tệ ở nước ngoài. Mọi giao dịch thanh toán và chuyển tiền liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ phải thực hiện bằng hình thức chuyển khoản thông qua tổ chức tín dụng được phép.
Thứ hai, đối với giao dịch chuyển tiền một chiều từ nước ngoài vào Việt Nam: Người cư trú là tổ chức có ngoại tệ thu được từ các khoản chuyển tiền một chiều phải chuyển vào tài
Thử tư, đổi với giao dịch mang ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam bằng tiền mặt và vàng khi xuất, nhập cảnh: Người cư trú và người không cư trú là cá nhân khi xuất, nhập cảnh được phép mang theo người số lượng ngoại tệ hoặc đồng Việt Nam bằng tiền mặt theo mức quy định của Ngân hàng nhà nước trong từng thời kì, phù hợp với chính sách quản lí ngoại hổi của Nhà nước. Ngoài ra, pháp luật cũng quy định người cư trú, người không cư trú là cá nhân có ngoại tệ tiền mặt được quyền cất giữ, mang theo người, cho, tặng, thừa kế, bán cho tổ chức tín dụng được phép, thanh toán cho các đối tượng được phép thu ngoại tệ tiền mặt. Riêng người cư trú là công dân Việt Nam được sử dụng ngoại tệ tiền mặt để gửi tiết kiệm ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép, được rút tiền gốc, lãi bằng đồng tiền đã gửi.
2.2 Pháp luật điều chỉnh đổi với giao dịch vốn
a) Giao dịch vốn là giao dịch chuyển vốn giữa người cư trú và người không cư trú với mục đích đầu tư.
Theo quy định của pháp luật hiện hành (Các giao dịch vốn được quy định tổng quát tại khoản 4 Điều 4 Pháp lệnh ngoại hối ngày 13/12/2005), giao dịch vốn bao gồm các hình thức sau đây:
- Đầu tư trực tiếp;
- Đầu tư gián tiếp vào các giấy tờ có giá;
- Vay và trả nợ nước ngoài;
- Cho vay và thu hồi nợ nước ngoài;
- Các hình thức đầu tư khác.
Có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh phải mở tài khoản vốn đậu tư trực tiếp bằng ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép để thực hiện các giao dịch thu, chi ngoại tệ liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp.
- Khi chuyển vốn ra nước ngoài dưới dạng vốn điều lệ, vốn đầu tư trực tiếp, vốn vay, lãi và chi phí vay nước ngoài, các khoản thu nhập hợp pháp khác từ quá trình đầu tư, nhà đầu tư và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải thực hiện chuyển vốn thông qua tài khoản đầu tư trực tiếp bằng ngoại tệ đã mở tại tổ chức tín dụng. Trong trường hợp có nguồn thu là tiền Việt Nam thì người cư trú, người không cư trú có quyền chuyển đổi thành ngoại tệ bằng cách mua ngoại tệ tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối để chuyển số ngoại tệ đó ra nước ngoài thông qua tài khoản vốn đầu tư trực tiếp.
b. Giao dịch đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài bằng ngoại tệ
Theo quy định của pháp luật hiện hành (Xem: Điều 52 Luật đầu tư năm 2014. nhuận, các khoản thu nhập hợp pháp khác hoặc vốn đầu tư về Việt Nam thông qua tài khoản vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài bằng ngoại tệ. Trường hợp nhà đầu tư Việt Nam muốn sử dụng lợi nhuận có được ở nước ngoài để tái đầu tư hoặc muốn kéo dài thời hạn đầu tư ở nước ngoài thì phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép và phải đăng kí với Ngân hàng nhà nước.), nhà đầu tư là người cư trú có quyền đầu tư vốn ra nước ngoài dưới các hình thức như:
a) Thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư;
b) Thực hiện họp đồng BCC ở nước ngoài;
c) Mua lại một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của tổ chức kinh tế ở nước ngoài để tham gia quản lí và thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại nước ngoài;
c. Giao dịch vay, cho vay nước ngoài bằng ngoại tệ
Giao dịch vay, cho vay nước ngoài bằng ngoại tệ được hiểu là sự thoả thuận giữa Chính phủ, người cư trú là tẻ chức, cá nhân Việt Nam với chính phủ, người không cư trú là tổ chức, cá nhân nước ngoài thông qua việc kí kết và thực hiện hợp đồng tín dụng quốc tế.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, Chính phủ hoặc người cư trú là tổ chửc, cá nhân Việt Nam được kí kểt các hợp đồng tín dụng với bên nước ngoài gồm chính phủ nước ngoài, tổ chức quốc tế, người không cư trú là tổ chức, cá nhân nước ngoài với tư cách là người đi vay hoặc người cho vay để thoả mãn các nhu cầu khác nhau của mình.
Đối với giao dịch vay, cho vay nước ngoài của Chính phủ, Bộ Tài chính sẽ là cơ quan đại diện cho Chính phủ trong việc đàm phán với bên nước ngoài về số vốn vay, thời hạn cho vay, lãi suất vay và phương thức hoàn trả vốn vay.
Đối với các giao dịch vay, cho vay nước ngoài của người cư trú là tổ chức kinh tế (bao gồm cả các tổ chức tín dụng), việc kí kết và thực hiện hợp đồng tín dụng với bên nước ngoài phải tuân thủ các quy định về điều kiện vay, điều kiện cho người cư trú là tổ chức được phát hành chứng khoán bằng ngoại tệ ở nước ngoài để huy động vốn cho các hoạt động của mình. Ngược lại, pháp luật cũng cho phép người không cư trú là tổ chức được phát hành chứng khoán bằng đồng Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam.
Khi thực hiện hoạt động phát hành chứng khoán, ngoài việc tuân thủ các quy định về điều kiện phát hành chứng khoán và thủ tục phát hành chứng khoán do pháp luật về chứng khoán quy định, người cư trú và người không cư trú là tổ chức phát hành còn phải mở tài khoản vốn phát hành chứng khoán bằng ngoại tệ (đối với tổ chức phát hành là người cư trú) hoặc bằng đồng Việt Nam (đối với tổ chức phát hành là người không cư trú) tại tổ chức tín dụng được phép. Mọi giao dịch liên quan đến việc phát hành chứng khoán đều phải được thực hiện thông qua tài khoản này.
Đối với nguồn vốn thu được từ phát hành chứng khoán bằng đồng Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam, tổ chức phát hành là người không cư trú được phép chuyển đổi thành ngoại tệ để chuyển ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam.
2.3 Pháp luật điều chỉnh đối với hành vi sử dụng ngoại hoi trên lãnh thổ Việt Nam
Theo pháp luật hiện hành, ngoài quy định về hạn chế sử dụng ngoại hối trong các giao dịch thanh toán, niêm yết, quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam như dự liệu tại Điều 22 Pháp lệnh ngoại hối, người cư trú và người không cư trú có quyền sử dụng ngoại hối của mình trên lãnh thổ Việt Nam theo nguyên tắc sau đây: ngoại tệ tiền mặt ra nước ngoài phục vụ cho các nhu cầu và mục đích hợp pháp của mình. Người cư trú là cá nhân có ngoại tệ tiền mặt được gửi tiết kiệm ngoại tệ tại các tổ chức tín dụng được phép và được nhận tiền vốn gốc, tiền lãi bằng ngoại tệ.
- Người không cư trú là tổ chức, cá nhân được mở và sử dụng tài khoản đồng Việt Nam tại tổ chức tín dụng được phép để thực hiện các giao dịch thu, chi theo quy định của pháp luật
- Người cư trú là cá nhân nước ngoài được mở và sử dụng tài khoản đồng Việt Nam để thực hiện các giao dịch thu, chi và giao dịch đầu tư gián tiếp theo quy định của pháp luật Việt Nam.
- Người cư trú và người không cư trú là cá nhân được sử dụng thẻ thanh toán quốc tế để giao dịch với khách hàng thông qua các tổ chức tín dụng được phép và các đơn vị chấp nhận thẻ. Các đơn vị chấp nhận thẻ chỉ được nhận thanh toán bằng đồng Việt Nam từ ngân hàng thanh toán thẻ.
2.4 Pháp luật điều chỉnh hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hổi
Cung ứng dịch vụ ngoại hối là hoạt động cần thiết trong đời sống kinh tế-xã hội nhằm thoà mãn nhu cầu sử dụng ngoại hối đa dạng của tổ chức, cá nhân trong hoạt động dân sự vấ thương mại. ở các nước trên thế giới, hoạt động này thường được thực hiện bởi các tổ chức chuyên nghiệp là ngân hàng. Còn ở Việt Nam, hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối hiện nay có thể được thực hiện bởi các tổ chức chuyên nghiệp là ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Ngoài ra, các tổ chức khác nếu thoả mãn điều kiện do pháp luật quy định thì cũng được phép
- Huy động vốn, cho vay và bảo lãnh bằng ngoại tệ dưới các hình thức theo quy định của pháp luật;
- Phát hành và làm đại lí phát hành thẻ thanh toán quốc tế trên lãnh thổ Việt Nam;
- Cung cấp các dịch vụ chuyển tiền, thanh toán trong nước và quốc tế cho người cư trú và người không cư trú, thực hiện các nghiệp vụ nhận và chi trả ngoại tệ;
- Chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ;
- Uỷ nhiệm cho tổ chức kinh tế và tổ chức tín dụng khác làm đại lí cung ứng một số dịch vụ ngoại hối, bao gồm dịch vụ đổi ngoại tệ, dịch vụ nhận và chi trả ngoại tệ...;
- Cung cấp dịch vụ ủy thác và quản lí tài sản bằng ngoại hối;
- Cung cấp các dịch vụ ngân hàng đầu tư bằng ngoại hối (ví dụ, mua, bán, sáp nhập, bảo lãnh và đại lí phát hành chứng khoán bằng ngoại tệ...);
- Cung cấp các dịch vụ tư vấn cho khách hàng về ngoại hối;
- Thực hiện các hoạt động ngoại hối khác theo thông lệ quốc tế và phù hợp với pháp luật Việt Nam.
Trong quá trình cung cấp các dịch vụ ngoại hối, mỗi ngân hàng phải niêm yết công khai bảng giá dịch vụ ngoại hối tại hội sở chính hoặc văn phòng giao dịch của chi nhánh, sở giao dịch để khách hàng tham khảo. Việc dành cho khách hàng những lựa chọn tốt nhất về giá cả và chất lượng dịch vụ ngoại hối chính là cách để mỗi ngân hàng riâng cao uy tín và khẳng định thương hiệu của mình trên thương trường.
Trong trường hợp tổ chức kinh tế làm dịch vụ ngoại hối cho khách hàng với tư cách là đại lí được ủy quyền của tổ chức tín dụng, họ phải tiến hành đăng kí với Ngân hàng nhà nước về hoạt động này. Riêng đối với trường hợp tổ chức kinh tế muốn trực tiếp cung ứng dịch vụ ngoại hối cho khách hàng với tư cách của chính mình thì phải thoả mãn một số điều kiện do Ngân hàng nhà nước quy định và phải được cơ quan này cấp giấy phép.
3. Giao dịch ngoại hối
Một vài thập kỷ gần đây, thị trường ngoại hối mới thực sự nhận được quan tâm, vì trước đó thị trường này không dành cho những cá nhân nhỏ lẻ như hầu hết chúng ta. Thị trường ngoại hối hay còn được gọi tắt là Forex, là một thị trường tài chính lớn nhất thế giới. Tại đây, diễn ra hoạt động mua bán và trao đổi các loại tiền tệ (giao dịch ngoại tệ). Với nhiều công cụ giao dịch, bạn sẽ thu được lợi nhuận lớn nếu biết cách đầu tư. Tuy nhiên, cũng không ngoại trừ khả năng thua lỗ khi đi sai hướng.
Mỗi loại tiền tệ đều có giá trị khác nhau, người ta sẽ “mua giá thấp – bán giá cao” để hưởng chênh lệch tỷ giá và tạo ra lợi nhuận. Ở thị trường ngoại hối, bạn sẽ thực hiện giao dịch trên các cặp tiền tệ được niêm yết theo quy định chung toàn cầu. Quan trọng là bạn phải có tầm nhìn sâu, về tiềm năng phát triển của cặp này để có chiến lược giao dịch phù hợp.
Vậy giao dịch ngoại hối là gì? Đó là việc bạn dự đoán xu hướng tăng & giảm của thị trường, sau đó thực hiện giao dịch (mua/bán) một cặp tiền tệ và kiếm lời từ việc chênh lệch tỷ giá. Để dễ hiểu, giống như bạn mua 1 khối lượng USD ở giá thấp và sau đó bán ra ở mức giá cao hơn nhằm kiếm tiền chênh lệch. Thực ra việc đầu tư không quá khó nhưng cũng không dễ dàng. Chỉ cần có kiến thức và tìm hiểu kỹ các phương pháp trước khi giao dịch thì chắc chắn bạn sẽ thành công.
4. Những ai có thể giao dịch ngoại hối?
Như đã nói trên, không ngoại trừ một ai, từ tập đoàn, ngân hàng hay các cá nhân… đều có thể giao dịch ngoại hối. Nhưng bạn cần có mục tiêu nhất định tại thị trường này để việc giao dịch được tốt hơn. Nên nhớ, với giao dịch ngoại hối, việc bỏ ra $500 và kiếm được $1000 một ngày không phải là điều gì đó quá khó. Tuy nhiên, bạn biết đấy, có một phương pháp giao dịch đem lại tổng lợi nhuận ròng thì tốt hơn. Đây là kinh nghiệm xương máu của nhiều nhà đầu tư cá nhân, không phải là nhận định riêng của chúng tôi, bạn hãy lưu ý điều này.
Đừng so sánh mình với các quỹ đầu tư hay ngân hàng, số tiền mà họ giao dịch lớn hơn bạn rất nhiều lần và đôi khi không chỉ phải vì lợi nhuận. Xét cho cùng, có vì điều gì đi nữa cũng không thấm tháp vào đâu so với giá trị giao dịch hàng ngày trên thị trường ngoại hối (5100 tỷ USD/ ngày theo thống kê năm 2016) – đừng cố gắng chống lại thị trường!
Tại thị trường ngoại hối, có nhiều loại tiền tệ được lưu thông. Tuy nhiên có 08 cặp tiền chính thường được các trader đầu tư: EUR/GBP, EUR/USD, EUR/JPY, USD/CAD, USD/CHF, USD/JPY, GPB/USD, AUD/USD. Ngoài các cặp trên, còn rất nhiều cặp tiền khác được giao dịch, nhưng những cặp tiền trên là có khả năng đem lại lợi nhuận tốt (và cũng mang lại rủi ro cao).
5. Thị trường ngoại hối có những đặc điểm gì?
Biến động tiền tệ hàng ngày thường rất nhỏ. Hầu hết các cặp tiền tệ biến động thấp hơn 1%/ngày, đại diện cho một sự thay đổi ít hơn 1% trong giá trị của đồng tiền. Điều này làm cho ngoại hối trở thành một trong những thị trường tài chính ít biến động nhất.
Do đó, nhiều nhà đầu cơ tiền tệ dựa vào sự sẵn có của đòn bẩy khổng lồ để tăng giá trị của các chuyển động tiềm năng. Trong thị trường ngoại hối bán lẻ đòn bẩy có thể bằng 250:1 hoặc thậm chí lên đến 1:1000 . Đòn bẩy cao hơn có thể cực kỳ nguy hiểm, nhưng do có thể giao dịch suốt ngày đêm và thanh khoản tốt, các nhà môi giới ngoại hối đã có thể tạo đòn bẩy cao để làm cho việc giao dịch có ý nghĩa đối với các nhà giao dịch hiện tại .
Tính thanh khoản cao và sự sẵn có của đòn bẩy cao đã thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh chóng của thị trường và biến nơi đây trở thành nơi lý tưởng cho nhiều nhà giao dịch. Vị thế giao dịch có thể được mở và đóng trong vòng vài giây hoặc có thể được giữ trong nhiều tháng. Giá tiền tệ dựa trên những cân nhắc khách quan về cung cầu và không thể dễ dàng thao túng, bởi vì quy mô thị trường quá lớn không cho phép ngay cả những người chơi lớn nhất, chẳng hạn như ngân hàng trung ương, để di chuyển giá theo ý muốn.
Thị trường ngoại hối cung cấp nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư. Tuy nhiên, để thành công một nhà giao dịch tiền tệ phải hiểu những điều cơ bản đằng sau các biến động của tiền tệ.
Mục tiêu của hướng dẫn ngoại hối này là cung cấp một nền tảng cho các nhà đầu tư hoặc thương nhân mới vào thị trường ngoại tệ. Chúng tôi sẽ đề cập đến những điều cơ bản về tỷ giá hối đoái, lịch sử của thị trường và các khái niệm chính bạn cần hiểu để có thể tham gia vào thị trường này. Chúng tôi cũng sẽ tham gia vào cách bắt đầu giao dịch ngoại tệ và các loại chiến lược khác nhau có thể được sử dụng.
Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật ngân hàng, hoạt động ngân hàng Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật ngân hàng trực tuyến. Đội ngũ luật sư luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc của Bạn.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật ngân hàng - Công ty luật Minh Khuê