Đến cuối tháng 3/2007, bà H vẫn thực hiện việc trông coi nhà giúp cho bà L nhưng phát hiện thấy vườn cam của nhà bà L đã chín, mọng nước, bà H tìm cách liên lạc với bà L nhưng không được. Không dự đoán được thời gian nào bà L sẽ về, tiện có thương lái đến mua bà H quyết định thuê thêm nhân công, xe vận chuyển để thu hoạch và bán cam giúp bà L. Ngày 20/5/2007 bà L về, gặp bà H để xin lại nhà và cảm ơn bà H đã giúp đỡ trong quá trình đi chăm sóc mẹ của mình. Bà H trả lại nhà đồng thời có đưa lại cho bà L số tiền 30 triệu đồng và nói rằng tiền do thu hoạch và bán cam giúp bà L. Cụ thể, tiền bán cam được 50 triệu đồng, sau khi trừ đi chi phí thuê nhân công cắt cam, thu hoạch, xe vận chuyển đi bán, phần còn dư là 30 triệu đồng. Bà L không đồng ý việc bà H thu hoạch và bán hộ số cam trong vườn của bà vì cho rằng chỉ nhờ bà H trông nhà giúp, khi không có sự đồng ý của bà, bà H không được động đến vườn cam. Đồng thời bà nhận thấy rằng, lượng cam trong vườn của bà năm nay có thể thu hoạch và bán được nhiều hơn những năm trước, trong khi đó bà H chỉ đưa lại cho bà có 30 triệu – số tiền thậm chí ít hơn những vụ thu hoạch trước. Ngày 22/5/2007, bà L yêu cầu bà H trả bà toàn bộ số tiền 50 triệu đồng như bà H nói đã thu được từ việc bán cam, đồng thời buộc bà H phải chịu chi phí thuê nhân công, xe vận chuyển vì cho rằng bà H đã tự ý thu hoạch vườn cam nhà mình khi chưa được sự đồng ý của mình. Bà H không chấp nhận vì cho rằng, mình đã làm giúp bà L khi một mặt không liên lạc được với bà L, mặt khác vườn cam đã chín đến vụ thu hoạch nếu không cắt sớm cam sẽ hỏng hoặc già quá bán sẽ mất giá. Hai bên xảy ra tranh chấp. Cho tôi hỏi, căn cứ vào những cơ sở pháp lý nào để giải quyết được tình huống trên? Xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự công ty luật Minh Khuê.

Thực hiện công việc không có uỷ quyền ?

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi : 1900.6162

Trả lời:

Xin chào bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cho luật Minh Khuê. Chúng tôi xin được trả lời bạn như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005

Nội dung trả lời:

Quy định Bộ luật dân sự quy định về thực hiện công việc không ủy quyền

>> Xem thêm:  Bên ủy quyền có quyền đơn phương hủy bỏ hợp đồng ủy quyền không ? Trách nhiệm các bên khi ủy quyền ?

Điều 594. Thực hiện công việc không có uỷ quyền

Thực hiện công việc không có uỷ quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó, hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.

Điều 595. Nghĩa vụ thực hiện công việc không có uỷ quyền

1. Người thực hiện công việc không có uỷ quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc phù hợp với khả năng, điều kiện của mình.

2. Người thực hiện công việc không có uỷ quyền phải thực hiện công việc như công việc của chính mình; nếu biết hoặc đoán biết được ý định của người có công việc thì phải thực hiện công việc phù hợp với ý định đó.

3. Người thực hiện công việc không có uỷ quyền phải báo cho người có công việc được thực hiện về quá trình, kết quả thực hiện công việc nếu có yêu cầu, trừ trường hợp người có công việc đã biết hoặc người thực hiện công việc không có uỷ quyền không biết nơi cư trú của người đó.

4. Trong trường hợp người có công việc được thực hiện chết thì người thực hiện công việc không có uỷ quyền phải tiếp tục thực hiện công việc cho đến khi người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc được thực hiện đã tiếp nhận.

5. Trong trường hợp có lý do chính đáng mà người thực hiện công việc không có uỷ quyền không thể tiếp tục đảm nhận công việc thì phải báo cho người có công việc được thực hiện, người đại diện hoặc người thân thích của người này hoặc có thể nhờ người khác thay mình đảm nhận việc thực hiện công việc.

Điều 596. Nghĩa vụ thanh toán của người có công việc được thực hiện

1. Người có công việc được thực hiện phải tiếp nhận công việc khi người thực hiện công việc không có uỷ quyền bàn giao công việc và thanh toán các chi phí hợp lý mà người thực hiện công việc không có uỷ quyền đã bỏ ra để thực hiện công việc, kể cả trong trường hợp công việc không đạt được kết quả theo ý muốn của mình.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn viết đơn xin ly hôn như thế nào ? Giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?

2. Người có công việc được thực hiện phải trả cho người thực hiện công việc không có uỷ quyền một khoản thù lao khi người này thực hiện công việc chu đáo, có lợi cho mình, trừ trường hợp người thực hiện công việc không có uỷ quyền từ chối.

Căn cứ Điều 594 Bộ luật dân sự, bà H đã thực hiện công việc không có uỷ quyền vì lợi ích của bà L. Việc thực hiện công việc không có uỷ quyền cũng là một nghĩa vụ. Cụ thể, nếu bà H không thu hoạch cam giúp bà L thì bà L sẽ gặp thiệt hại do cam già, thối và không thể thu hoạch được nữa. Hơn nữa, bà H đã hoàn trả số tiền thu được và trình bày đầy đủ quy trình thực hiện với bà L, trước lúc thu hoạch bà H cũng đã gọi điện tuy nhiên không liên lạc được với bà L. Theo quy định của pháp luật, bà L còn phải trả một khoản thù lao cho bà H khi đã giúp đỡ bà L trông nom nhà cửa và thu hoạch giúp.

Thực hiện công việc không có ủy quyền

Khái niệm

Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người tự ý thực hiện công việc của người khác, vì lợi ích của người khác mà không dựa trên cơ sở hợp đồng thực hiện công việc đó. Thông thường, một người không có quyền can thiệp vào công việc của người khác, không có quyền làm điều đó theo ý chí chủ quan của mình mà không được người có công việc chấp nhận. Tuy nhiên, trên thực tế nếu việc thực hiện công việc đó hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc, nhằm mang lại lợi ích cho người có công việc thì cần được pháp luật thừa nhận. Do đó Điều 574 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định: “Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó, hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối”.

Điều kiện để xác định công việc không có ủy quyền

Một công việc được xác định là công việc không có uỷ quyền phải đủ các yêu tố sau:

Thứ nhất, người thực hiện công việc không có ủy quyền là người hoàn toàn không có nghĩa vụ phải thực hiện công việc đó nhưng đã thực hiện công việc đó. Nghĩa vụ ở đây là nghĩa vụ pháp lý do luật định hoặc do các bên thỏa thuận.

Thứ hai, việc thực hiện công việc đó phải hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc, nếu người thực hiện công việc vì lợi ích của mình hoặc của người khác thì không áp dụng chế định này.

Thứ ba, người có công việc được thực hiện không biết hoặc biết mà không phản đối việc thực hiện đó. Nếu người có công việc phản đối mà bên kia vẫn tiếp tục thực hiện thì không thuộc chế độ này. Tuy nhiên, ý nguyện của người thực hiện công việc không được trái pháp luật và trái đạo đức xã hội. Ví dụ: ngăn cản người khác tự tử được coi là công việc không có ủy quyền mặc dù việc thực hiện đó bị người tự tử phản đối.

>> Xem thêm:  Có thể lập văn bản ủy quyền khi đang ở nước ngoài không ? Hình thức của hợp đồng ủy quyền ?

Những quy định của pháp luật về thực hiên công việc không có ủy quyền

Nghĩa vụ của người thực hiện công việc không có ủy quyền

Nghĩa vụ thực hiện công việc không có ủy quyền:

Điều 575 BLDS 2015 đã quy định về nghĩa vụ của người thực hiện công việc không có ủy quyền như sau:

Thực hiện công việc không có ủy quyền phù hợp với điều kiện, khả năng của mình. Vì việc thực hiện công việc ở đây hoàn toàn không có sự ủy quyền cũng như bất kì thỏa thuận nào cho nên để đảm bảo lợi ích của người có công việc thì người thực hiện công việc chỉ có nghĩa vụ thực hiện công việc phù hợp với điều kiện, khả năng của mình.

Thực hiện công việc như công việc của chính mình. Thực hiện công việc theo ý định của người có công việc nếu biết hoặc đoán biết được ý định đó. Nếu không biết được ý định đó thì phải cân nhắc đến tính chất công việc để thực hiện sao cho có lợi nhất cho người có công việc. Nếu vi phạm nguyên tắc này người thực hiện công việc phải bồi thường thiệt hại xảy ra.

Thông báo cho người có công việc được thực hiện biết quá trình, kết quả thực hiện công việc nếu người đó yêu cầu, trừ trường hợp người có công việc đã biết hoặc người thực hiện công việc không có ủy quyền không biết nơi cư trú của người đó. Người thực hiện công việc ngoài việc thông báo cho người có công việc thì phải thông báo cho cả người thừa kế, người đại diện của người có công việc trong suốt quá trình thực hiện công việc.

Người đã thực hiện công việc không ủy quyền phải tiếp tục thực hiện công việc chi đến khi có công việc có thể tự mình thực hiện công việc. Nếu người có công việc chết trước khi tiếp nhận công việc thì người thực hiện công việc không có ủy quyền phải tiếp tục thực hiện công việc cho đến khi người thừa kế, người đại diện của người có công việc tiếp nhận công việc.

Khi có lí do chính đáng không thể tiếp tục thực hiện công việc tì người thực hiện công việc không có ủy quyền phải báo ngay cho người có công việc, người đại diện, thân thích cuả họ. Nghĩa vụ thực hiện công việc sẽ chấm dứt sau khi thông báo dù những người được báo có tiếp nhận công việc hay không trừ khi lí do không thể tiếp nhận công việc là chính đáng. Người đã thực hiện công việc không có ủy quyền có thể người khác thay mình thực hiện công việc. Khi đó nghĩa vụ của họ chấm dứt. Người được nhờ sẽ trở thành người thực hiện công việc không có ủy quyền.

Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại:

Điều 577 BLDS đã quy định về nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của người thực hiện công việc không có ủy quyền như sau:

>> Xem thêm:  Tư vấn xử lý tranh chấp tài sản thế chấp tại ngân hàng ?

Khi người thực hiện công việc không có ủy quyền cố ý gây thiệt hại trong khi thực hiện công việc thì phải bồi thường thiệt hại cho người có công việc được thực hiện. Quy định này xuất phát từ nghĩa vụ được quy định tại điều 575 BLDS 2015, người thực hiện công việc không có ủy quyền phải thực hiện công việc một cách khách quan, trung thực, thực hiện công việc như thực hiện công việc của chính mình. Vì vậy, người thực hiện công việc không có ủy quyền không được thực hiện công việc theo cách thức mà người đó biết trước, đoán biết trước rằng làm như vậy sẽ gây thiệt hại cho người có công việc. Nếu biết mà vẫn có tình thực hiện, người thực hiện công việc không có ủy quyền phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những thiệt hại xảy ra, phải bồi thường thiệt hại cho người có công việc được thực hiện.

Nếu người thực hiện công việc không có ủy quyền do vô ý mà gây thiệt hại thì căn cứ vào hoàn cảnh đảm nhận công việc, người đó có thể được giảm mức bồi thường. Mức bồi thường do các bên thỏa thuận, tùy thuộc vào hoàn cảnh đảm nhận công việc. mức độ hoàn thành công việc, mức độ thiệt hại, mối quan hệ xã hội giữa hai bên.

Nghĩa vụ của người có công việc được thực hiện

Theo Ðiều 576 BLDS năm 2015 thì:

Người có công việc được thực hiện phải tiếp nhận công việc khi người thực hiện công việc không có ủy quyền bàn giao công việc kể cả trong trường hợp công việc không đạt được kết quả theo ý muốn của mình.

Việc người khác thực hiện công việc của mình không xuất phát từ ý chí – mong muốn chủ quan thường sẽ tạo ra kết quả không như mong đợi của bản thân. Tuy nhiên pháp luật dựa trên sự công bằng và xuất phát từ lợi ích của người có công việc nên ghi nhận nghĩa vụ của bên có công việc là phải tiếp nhận kết quả thực hiện công việc.

Phải thanh toán các chi phí hợp lý mà người thực hiện công việc không có uỷ quyền đã bỏ ra để thực hiện công việc

Chi phí mà người thực hiện công việc bỏ ra là những khoản kinh phí thực tế phải thanh toán, tất toán cho người khác khi hoàn thiện các công việc cụ thể. Pháp luật ghi nhận chi phí ở đâu phải là chi phí hợp lí. Sự hợp lí này được hiểu rằng giá trị lợi ích có thể hao tổn, mất mát nếu không được khắc phục bằng công việc mà người thực hiện công việc đã làm sẽ lớn hơn những chi phí đã bỏ ra. Thêm nữa những khoản chi phí cần chi trả phải phù hợp với điều kiện kinh tế của người có công việc được thực hiện.

Người có công việc được thực hiện phải trả cho người thực hiện công việc không có ủy quyền một khoản thù lao khi người này thực hiện công việc chu đáo, có lợi cho mình, trừ trường hợp người thực hiện công việc không có ủy quyền từ chối.

Thù lao là một khoản lợi mà một bên đã bỏ ra công sức để thực hiện cần được hưởng. Với quan hệ này, người đã thực hiện công việc có quyền được hưởng thù lao khi họ đã hoàn thành chu đáo công việc. Trừ trường hợp người này từ chối nhận. Đây là quy định phù hợp nhưng chưa triệt để vì không có căn cứ xác định rõ ràng cho việc tính thù lao.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

>> Xem thêm:  Thủ tục ủy quyền cho người khác bán đất, chuyển nhượng nhà đất ?

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự.

>> Xem thêm:  Nợ tiền bao nhiêu bị truy cứu trách nhiệm hình sự ? Khi nào nên khởi kiện đòi nợ

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Quy định thực hiện công việc không ủy quyền

Trả lời:

Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người tự ý thực hiện công việc của người khác, vì lợi ích của người khác mà không dựa trên cơ sở hợp đồng thực hiện công việc đó. Thông thường, một người không có quyền can thiệp vào công việc của người khác, không có quyền làm điều đó theo ý chí chủ quan của mình mà không được người có công việc chấp nhận. Tuy nhiên, trên thực tế nếu việc thực hiện công việc đó hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc, nhằm mang lại lợi ích cho người có công việc thì cần được pháp luật thừa nhận. Do đó Điều 574 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định: “Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó, hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối”.

Câu hỏi: Điều kiện để xác định công việc không có ủy quyền

Trả lời:

Thứ nhất, người thực hiện công việc không có ủy quyền là người hoàn toàn không có nghĩa vụ phải thực hiện công việc đó nhưng đã thực hiện công việc đó. Nghĩa vụ ở đây là nghĩa vụ pháp lý do luật định hoặc do các bên thỏa thuận.

Thứ hai, việc thực hiện công việc đó phải hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc, nếu người thực hiện công việc vì lợi ích của mình hoặc của người khác thì không áp dụng chế định này.

Thứ ba, người có công việc được thực hiện không biết hoặc biết mà không phản đối việc thực hiện đó. Nếu người có công việc phản đối mà bên kia vẫn tiếp tục thực hiện thì  không thuộc chế độ này. Tuy nhiên, ý nguyện của người thực hiện công việc không được trái pháp luật và trái đạo đức xã hội. Ví dụ: ngăn cản người khác tự tử được coi là công việc không có ủy quyền mặc dù việc thực hiện đó bị người tự tử phản đối.

Câu hỏi: Nghĩa vụ của người thực hiện công việc không có ủy quyền

Trả lời:

1. Người thực hiện công việc không có uỷ quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc phù hợp với khả năng, điều kiện của mình.

2. Người thực hiện công việc không có uỷ quyền phải thực hiện công việc như công việc của chính mình; nếu biết hoặc đoán biết được ý định của người có công việc thì phải thực hiện công việc phù hợp với ý định đó.

3. Người thực hiện công việc không có uỷ quyền phải báo cho người có công việc được thực hiện về quá trình, kết quả thực hiện công việc nếu có yêu cầu, trừ trường hợp người có công việc đã biết hoặc người thực hiện công việc không có uỷ quyền không biết nơi cư trú của người đó.

4. Trong trường hợp người có công việc được thực hiện chết thì người thực hiện công việc không có uỷ quyền phải tiếp tục thực hiện công việc cho đến khi người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc được thực hiện đã tiếp nhận.

5. Trong trường hợp có lý do chính đáng mà người thực hiện công việc không có uỷ quyền không thể tiếp tục đảm nhận công việc thì phải báo cho người có công việc được thực hiện, người đại diện hoặc người thân thích của người này hoặc có thể nhờ người khác thay mình đảm nhận việc thực hiện công việc.