1. Thuyết pháp trị là gì?
Trong lịch sử, học thuyết pháp trị Trung Hoa cổ đại do Hàn Phi Tử sáng lập đã không ngừng phát triển, bổ sung để trở thành học thuyết quản lý chủ yếu của nhà nước phong kiến Trung Hoa. Học thuyết này có ảnh hưởng sâu sắc trong lịch sử các quốc gia phong kiến phương Đông, trong đó có Việt Nam. Là học thuyết được xây dựng, hoàn thiện dựa trên những tiền đề lý luận – thực tiễn khoa học nên học thuyết này có ảnh hưởng to lớn trong lịch sử. Vì vậy, nếu gạt bỏ nội dung giai cấp và những nhiệm vụ lịch sử mà học thuyết pháp trị thực hiện, có thể tìm thấy ở học thuyết này những giá trị to lớn và kinh nghiệm về quản lý xã hội, quản lý con người trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay.
Học thuyết chủ trương dùng pháp luật cai trị xã hội, trị quốc an dân.
Những người theo phái pháp trị thường được gọi là pháp gia.
2. Lịch sử hình thành và phát triển của học thuyết pháp trị:
Ở Trung Quốc, thuyết pháp trị ra đời rất sớm, ngay từ thời cổ đại, vào thời Xuân Thu (năm 770 - 476 trước công nguyên) một số học giả, chính khách thấy xã hội hỗn loạn đã chủ trương dựa vào pháp luật làm căn bản để trị quốc, cải biến tình hình như Tử Sản, tướng quốc (Thủ tướng) nước Trịnh, Phạm Tuyên nước Tấn, Lý Khắc nước Ngụy đều là những người chủ trương pháp trị, mỗi người theo một cách riêng đã cho ban hành luật lệ. Tử Sản có Hình thư, Phạm Tuyên có Hình đỉnh (Đỉnh đồng khắc văn bản pháp luật); Lý Khắc có Pháp kinh gồm 6 tập. Trong số các pháp gia có Thương Ưởng được vua Tần cho làm Tả thứ trưởng tôi Tể tướng để thi hành “Biến pháp canh tân". Biến pháp thi hành được 10 năm, dân Tần rất vui mừng, ngoài đường không nhặt của rơi, trong núi không có trộm cướp, nhà đủ người no, dân dũng cảm trong lúc chiến đấu, vì công việc, khiếp sợ không dám đánh nhau vì việc riêng, làng xóm đều được trị an. Nhưng đó cũng là kết quả của một chính sách thực hành hình phạt tàn khốc, khắc bạc. Ngay đối với chính sách của ông không những không được chê mà ngay việc khen, bàn bạc cũng không được, chỉ biết phục tùng, làm theo pháp luật. Đến lúc thất sủng, đối với vua mới lên ngôi, bản thân ông phải trốn chạy nhưng từ quan đến dân đều khước từ chứa chấp, cuối cùng ông trở thành nạn nhân của chính hình phạt của "Biến pháp...": bị 4 ngựa phanh thây.
Từ những chủ trương. chính sách, quan điểm và thực tiễn thực thi pháp trị ở các nước, công việc tổng kết đã được tiến hành, do Hàn Phi (khoảng 280-230 trước Công nguyên) thực hiện với tác phẩm “Hàn Phi Tử” vốn được xem là một cuốn sách kinh điển của phái pháp gia và tác giả của nó - Hàn Phí - được xếp vào loại “Bách gia chư tử' và từ đó Hàn Phi thường được gọi là Hàn Phi Tử như Khổng Tử, Mặc Tử, Lão TỬ... Những người theo phái pháp gia thường cho rằng, bản tính con người là ác, con người thuộc tính ác, yếu hèn dễ phạm sai lầm, phải dùng hình phạt thật nghiêm khắc để sai khiến và cũng mới giáo hóa được họ. Hàn Phi cho rằng pháp luật của một nước phải thường xuyên được thay đổi, pháp luật cũ phải được thay thế bằng pháp luật mới. Pháp luật chứ không phải ý chí của vua chúa, không phải sự chuyên quyền của cá nhân, mới là cơ sở cho việc điều hành trị quốc, an dân.
Hàn Phi chủ trương pháp trị, nhưng theo ông, không phải chỉ có pháp, tức pháp luật, là đủ. Ông đề ra phương châm kết hợp ba vế: Pháp - Thuật - Thể, trước hết cần có pháp luật, xét người không a dua, phụ họa, nể vì quyền quý, thưởng phạt xét theo công lao, dùng người xét theo tài năng. Còn thuật là thủ đoạn dùng để chế ngự thần dân và để pháp và thuật trở lên hữu hiệu phải cần đến thế, tức cung cách phát huy, tận dụng quyền lực được trao làm cho pháp luật được thi hành, mọi người tuân theo, tôn trọng. Trong tác phẩm của mình, Hàn Phi thể hiện sự chê ghét những người trị nước không trau dồi làm cho pháp chế sáng tỏ, không lo việc làm cho nước giàu, binh mạnh bằng cách tiến cử người xứng đáng, dùng người hiển, trái lại dùng những bọn tham nhũng, dâm loạn, sâu mọt và ông chỉ ra "ngũ để" - năm loại sâu mọt. Hàn Phi cho rằng trong chính trị cần phải có sự tàn nhẫn, trong quốc gia, tất cả mọi người phải tuân thủ một cách mù quáng các pháp luật và chính quyền nhà nước - người bảo vệ pháp luật đó. Hàn Phi cho rằng nhu cầu thỏa mãn lợi ích cá nhân là bản tính con người và đề xướng việc cần kiệm lập nghiệp làm giàu, dân phải lo làm giàu, chăm lo sản xuất nông nghiệp, trên cơ sở đó xây dựng một lực lượng vũ trang hùng hậu để tiến hành chiến tranh kiêm tính, thống nhất thiên hạ và gọi là “canh chiến" (cày bừa, chiến đấu) và ông xếp những người không tham gia, đồng góp cho canh chiến là bọn ngũ đồ - năm loại sâu mọt, kể cả kẻ sĩ, thuyết khách, hiệp khách, người buôn bán, làm thơ... cần phải được quản chế chặt chẽ. Đến ngay Khổng Tử, Mặc Tử..., những người không tham gia canh chiến, vì vậy theo ông, nên không đáng kể vào đâu. "Sử kí" của Tư Mã Thiên nhận xét học thuyết của ông là “hết sức thảm khốc, ít dùng ân đức".
3. Ý nghĩa của thuyết pháp trị là gì?
3.1 Ý nghĩa trong lịch sử:
Là học thuyết chính trị – pháp lý đồng thời là học thuyết quản lý xã hội tiêu biểu trong lịch sử, học thuyết pháp trị đã trở thành ngọn cờ tư tưởng của Trung Hoa thời cổ đại và nền tảng tư tưởng chế độ phong kiến phương Đông. Học thuyết này có ảnh hưởng lớn đến ý thức hệ, các định chế chính trị và chính sách phát triển kinh tế của Trung Quốc và các nước láng giềng. Học thuyết pháp trị Trung Hoa đã cung cấp nội lực cho văn hóa Trung Quốc tự cường, nó cũng chi phối mạnh văn hóa chính trị qua suốt thời trung cổ, cận đại và hiện nay.
Chủ trương dùng pháp luật làm công cụ trị nước của Hàn Phi Tử với những vấn đề chính yếu như: khẳng định tầm quan trọng của pháp luật, đề cao tinh thần bình đẳng trước pháp luật thực sự là tiến bộ lịch sử mà mãi sau này đến thời kỳ Khai sáng, phương Tây mới tiếp cận và vượt lên bởi các tên tuổi J. Locke, J,J. Rousseou, Montesquieu… Đặc biệt, tư tưởng kết hợp giữa quyền lực và luật pháp cùng với những nguyên tắc pháp lý cơ bản của học thuyết này đã đánh dấu bước phát triển quan trọng của tư duy pháp lý nhân loại và đóng góp đáng kể cho sự hình thành, phát triển tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử. Xét trong bối cảnh thời đại bấy giờ, học thuyết pháp trị đã đạt đến đỉnh cao tư tưởng về nhà nước và pháp luật, bởi đây là lần đầu tiên trong lịch sử, những vấn đề cơ bản về nhà nước và pháp luật được trình bày một cách tương đối toàn diện. Tư tưởng pháp trị có ý nghĩa hết sức lớn lao trong lịch sử nhà nước và pháp quyền phong kiến phương Đông và đối với lịch sử văn minh nhân loại, bước đầu tạo ra sự công khai hóa quyền lực và thực thi quyền lực, góp phần xóa đi sự thần bí của nhà vua và triều đình.
3.2 Ý nghĩa trong thời kỳ đương đại hiện nay:
Với những giá trị khoa học và thực tế, học thuyết pháp trị chứa đựng nhiều yếu tố phù hợp đối với thực tiễn pháp lý đương đại với những tư tưởng dùng pháp luật để quản lý xã hội và chấn hưng đất nước, tinh thần thượng tôn pháp luật, đề cao giá trị công bằng và tính nghiêm minh trong thi hành pháp luật. Nghiên cứu, tham chiếu học thuyết pháp trị Trung Hoa cổ đại của Hàn Phi Tử không chỉ giúp chúng ta hiểu thêm lịch sử tư tưởng chính trị – pháp lý của các thời đại khác nhau, mà còn góp phần khẳng định yêu cầu khách quan của việc quản lý xã hội bằng pháp luật, tác dụng của pháp luật trong việc trị nước.
Trên phương diện lý luận – lịch sử nhà nước và pháp luật, học thuyết pháp trị đưa ra những nhận thức đúng đắn về vai trò, chức năng của pháp luật với những quan điểm và nguyên tắc pháp lý khoa học, tiến bộ về xây dựng và thực hiện pháp luật. Tinh thần pháp luật thể hiện rõ trong chủ trương đề cao pháp trị, pháp luật phải được xây dựng phù hợp với hiện thực cuộc sống, công bằng, minh bạch và thống nhất. Để đáp ứng yêu cầu và lợi ích tối cao của toàn xã hội, pháp luật phải thực hiện nghiêm minh, bình đẳng, không a dua phụ họa, nể vì quyền quý. Cùng với đề cao vai trò của pháp luật, pháp trị cũng đề cao chính sách dụng nhân (dùng người theo tài năng) và đặt ra những yêu cầu về khảo sát, điều tra, kiểm tra, đánh giá, xử lý trong quản lý. Các pháp gia cũng phê phán tệ lũng đoạn quyền lực, chủ trương kêu gọi củng cố quyền lực từ phía nhà cai trị theo tinh thần thượng tôn pháp luật. Ngoài ra, việc chú trọng đến nhu cầu thực tế, không chuộng nói suông là một đặc điểm quan trọng của tư tưởng pháp gia. Nhìn chung, địa vị chủ yếu và giá trị bao trùm của học thuyết pháp trị trước hết là đưa ra đường lối, quan điểm chính trị thực tế, thiết thực và thực dụng, đề cao giá trị của các quy phạm pháp luật trong quản lý xã hội.
Lý luận pháp trị cũng ảnh hưởng lớn đối với thực tiễn xây dựng, thực hiện và bảo vệ pháp luật trong chế độ phong kiến Việt Nam. Vì vậy, giải quyết đúng đắn về mặt nhận thức lý luận vấn đề ảnh hưởng của học thuyết pháp trị Trung Hoa cổ đại đối với tư tưởng chính trị – pháp lý phong kiến Việt Nam có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ trên phương diện lịch sử và văn hóa, mà còn trên phương diện tổ chức đời sống xã hội Việt Nam hiện đại. Mặt khác, nhận thức giá trị và những ảnh hưởng của học thuyết chính trị – pháp lý Trung Hoa cổ đại đối với tư tưởng chính trị – pháp lý phong kiến Việt Nam còn giúp chúng ta đánh giá đúng đắn nguyên nhân của các vấn đề nảy sinh trong đời sống chính trị – pháp lý Việt Nam hiện đại và những phương hướng, giải pháp quan trọng để hoàn thiện nhà nước, pháp luật. Việc kế thừa, phát huy tư tưởng đề cao vai trò của pháp luật và các nguyên tắc đảm bảo thực thi pháp luật nghiêm minh của học thuyết pháp trị sẽ góp phần khắc phục những hạn chế về tư duy và phương pháp quản lý xã hội truyền thống, xây dựng ý thức pháp luật, tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.
Luật Minh Khuê (Sưu tầm & biên tập)