1. Thủ tục hỏi - đáp
Phiên hỏi – đáp (Question Time) là một hình thức để Nghị viện giám sát hoạt động của hành pháp. Các câu hỏi được đặt ra xét cho cùng là yêu cầu các thành viên Chính phủ giải thích về một vấn đề nào đó hoặc yêu cầu Chính phủ cho biết thông tin về một vụ việc và yêu cầu Chính phủ giải quyết các vụ việc đó. Phiên hỏi - đáp khác với chất vấn ở chỗ không đi đến một cuộc biểu quyết thoả mãn hay không thoả mãn với câu trả lời của Chính phủ. Hình thức giám sát này tạo điều kiện cho các nghị sĩ năng lực của Chính phủ trong việc giải quyết các vấn đề của quốc gia.
Hình thức hỏi – đáp thường chỉ có những nước theo chính thể đại nghị, nhưng ở một số nước theo chế độ tổng thống như ở Philippineses, vào thứ Năm các thành viên Chính phủ cũng phải ra trả lời trước Nghị viện. Các câu hỏi thường bao trùm mọi lĩnh vực chính sách, và ở nhiều nước theo mô hình Anh, các bộ trưởng thay nhau trả lời các câu hỏi theo thứ tự, tính trung bình mỗi bộ trưởng xuất hiện một lần trong một tháng. Trong đó, các câu hỏi dành cho người đứng đầu hành pháp có ý nghĩa quan trọng. Chẳng hạn, ở Zambia, Phó Tổng thống đồng thời là nghị sĩ phải trả lời các câu hỏi dành cho Tổng thống.
Thủ tục hỏi – đáp được thực hiện theo hai hình thức: Câu hỏi miệng và câu hỏi viết. - Câu hỏi miệng do nghị sĩ đặt ra để yêu cầu các thành viên của Chính phủ trả lời mình trực tiếp bằng miệng trong một khoảng thời gian nhất định đã được đưa vào lịch làm việc định kỳ của Nghị viện gọi là “Thời gian dành cho các câu hỏi” (Question Time). Ở Viện dân biểu Vương quốc Anh, thời gian dành cho các câu hỏi thường được tổ chức trong khoảng thời gian từ 2 giờ 20 đến 3 giờ 30 chiều các ngày thứ Hai, thứ Ba và thứ Tư, từ 11 giờ 30 cho đến 12 giờ 20 ở các ngày thứ Năm, ngày thứ Sáu. Còn ở Thụy Điển, thời gian dành cho các câu hỏi được tổ chức vào các ngày thứ Năm hàng tuần. Ở khá nhiều nước (44/88 Nghị viện) cho phép các nghị sĩ đặt câu hỏi phụ sau khi bộ trưởng trả lời câu hỏi chính ban đầu, tạo điều kiện làm rõ những điểm mà bộ trưởng vô tình hay cố ý trả lời chung chung hoặc “quên”.
- Câu hỏi viết: việc trả lời các câu hỏi viết được thực hiện bằng cách các thành viên Chính phủ được hỏi phải soạn câu trả lời bằng văn bản và có thể được gửi trực tiếp đến người hỏi (như ở Thụy Điển) hoặc được đăng tải trong Công báo riêng của Viện (như ở Viện dân biểu của Anh). Thường thì các nghị sĩ thích đặt câu hỏi miệng hơn vì qua đó họ có thể được đặt thêm các câu hỏi phụ và thủ tục tiến hành cũng linh động hơn, đặc biệt nó có thể chỉ ra những điểm yếu của các chủ thể trả lời khi các câu hỏi chưa được chuẩn bị trả lời kỹ càng. Một khía cạnh liên quan đến thủ tục hỏi – đáp là có cần thông báo trước về câu hỏi hay không, vì nếu phải thông báo quá sớm sẽ làm mất hiệu quả của hình thức giám sát này. Theo một cuộc khảo sát, ở 55 Nghị viện cần phải thông báo trước qua Ban thư ký Nghị viện mới được nêu câu hỏi tại hội trường trong phiên hỏi – đáp. Thời gian thông báo trước từ một ngày đến 15 ngày, trong đó phần lớn Nghị viện yêu cầu thông báo trước một ngày. Tuy nhiên, đối với những vấn đề cấp bách mới xảy ra, chỉ cần gửi thẳng câu hỏi cho chủ tịch viện, và nhân vật này sẽ quyết định câu hỏi có được nêu hay không(1). Thủ tục đặt câu hỏi ra đời những năm 1835 ở Nghị viện Anh, và bắt đầu được áp dụng đều đặn vào năm 1869. Cho đến nay, thủ tục này trở thành thông dụng với khoảng 240 câu hỏi được đưa ra mỗi ngày(2).
2. Thủ tục chất vấn
Với ít nhiều điểm khác nhau ở các nước, chất vấn (interpellation) được định nghĩa là yêu cầu của nghị sĩ đối với Thủ tướng, hay các thành viên của Chính phủ ra trước phiên họp toàn viện để trả lời về sự thi hành chính sách quốc gia, hay một vấn đề hiện thời nào đó của quốc gia. Khác với hỏi – đáp, chất vấn thường đề cập đến các vấn đề có tầm quan trọng quốc gia, ví dụ ở Hạ viện Bỉ không được chất vấn về các vấn đề địa phương, hoặc các vấn đề lợi ích riêng tư. Trong nhiều trường hợp, có thể diễn ra biểu quyết sau khi chất vấn, thậm chí dẫn đến kiến nghị về bất tín nhiệm Chính phủ.
Các nhóm đảng trong Nghị viện thường đóng vai trò quan trọng trong chất vấn. Không chỉ một số Nghị viện cho phép các nhóm đảng nêu chất vấn, mà ở nhiều nước, các nhóm đảng còn kiểm soát việc khởi xướng chất vấn của nghị sĩ thuộc nhóm mình, ví dụ ở Hạ viện Bỉ, các nghị sĩ phải nhận được sự đồng ý của nhóm đảng mới được đưa chất vấn ra nghị trường. Thông thường, các nhóm đảng đối lập mới hay sử dụng quyền chất vấn của mình. Thủ tục tiến hành chất vấn được thực hiện theo các bước sau đây:
3. Yêu cầu chất vấn
Thủ tục chất vấn được bắt đầu bằng yêu cầu chất vấn. Yêu cầu chất vấn thường có tính cá nhân, tức là việc yêu cầu chất vấn thường xuất phát từ cá nhân hoặc một nhóm nghị sĩ chứ không phải mang tính toàn viện. Thông thường, các yêu cầu chất vấn là do một nghị sĩ nào đó trong Nghị viện đặt ra và có liên quan trực tiếp đến hoạt động của một bộ, hay việc thi hành một chính sách nào đó của Chính phủ. Theo Nội quy của nhiều nước, các yêu cầu chất vấn phải ghi rõ các vấn đề chất vấn và tên cụ thể của người bị chất vấn. Ngoài ra, nhằm tránh những yêu cầu chất vấn không thoả đáng, Nghị viện nhiều nước còn quy định các yêu cầu chất vấn phải thu nhận được một lượng nhất định các chữ ký đồng tình của các nghị sĩ. Chẳng hạn, Điều 153, Nội quy Quốc hội Cộng hoà Pháp quy định các yêu cầu chất vấn, hoặc yêu cầu khiển trách của nghị sĩ đối với Chính phủ phải thu nhận được số chữ ký của ít nhất một phần mười tổng số thành viên của Nghị viện. Một khảo sát khác của IPU cho biết, ở 15 trong số 45 Nghị viện có hình thức giám sát này, phải có một số lượng nghị sĩ nhất định (ví dụ 5% như ở Hạ viện Đức) hoặc một nhóm đảng mới có quyền khởi xướng chất vấn; số lượng này có thể là 5 nghị sĩ ở nước này, cũng có thể là 1/3 tổng số nghị sĩ ở nước khác. Ở 30 nước còn lại, cá nhân nghị sĩ được quyền nêu chất vấn, nhưng phải có sự ủng hộ của một số lượng nghị sĩ nào đó hoặc thậm chí của đa số nghị sĩ. Không chỉ thế, theo kiến nghị của nghị sĩ, toàn thể Nghị viện có thể tranh luận về vấn đề nêu trong chất vấn. Chẳng hạn ở Nghị viện Estonia, chất vấn được khởi xướng bởi yêu cầu bằng văn bản của cá nhân các nghị sĩ. Sau khi bộ trưởng trả lời, người nêu chất vấn bắt đầu cuộc tranh luận. Tiếp đó, đại diện các nhóm đảng và các ủy ban phát biểu về vấn đề được nêu. Nghị viện một số nước quy định chất vấn diễn ra định kỳ, ví dụ một lần một tuần như ở Thụy Điển. Yêu cầu chất vấn thường được gửi đến Chủ tịch Nghị viện, và người này có trách nhiệm chuyển yêu cầu chất vấn tới Thủ tướng, hoặc thành viên của Chính phủ có trách nhiệm trả lời chất vấn.
4. Xác định ngày chất vấn
Việc xác định thời gian tiến hành phiên họp toàn thể để thực hiện thủ tục chất vấn có ý nghĩa rất quan trọng bởi bản thân câu hỏi chất vấn có mục đích xem xét trách nhiệm của Thủ tướng và thành viên của Chính phủ nên câu chất vấn phải nêu ra đúng thời điểm, theo ý của người yêu cầu. Để xác định thời gian tiến hành chất vấn, rất nhiều nước quy định theo hướng Văn phòng Nghị viện và Chính phủ sẽ thảo luận để đi đến một thoả thuận. Thời điểm này thường được xác định làm sao cho nghị viên vẫn có thời gian chất vấn, còn các thành viên của Chính phủ cũng có đủ thời gian chuẩn bị câu trả lời. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là cách thức giải quyết trong trường hợp Thủ tướng và các thành viên của Chính phủ không muốn trả lời câu hỏi chất vấn. Pháp luật của một số nước như Thụy Điển giải quyết vấn đề này bằng cách chấp nhận việc không trả lời này, nhưng đi kèm với nó là uy tín chính trị của Thủ tướng, hoặc các thành viên Chính phủ sẽ bị giảm sút. Một số nước khác lại quy định, nếu Chính phủ không trả lời chất vấn trong một thời gian nhất định thì với yêu cầu của một lượng nghị sĩ nhất định, Nghị viện đơn phương xác định thời gian chất vấn và thông báo cho Chính phủ.
5. Tiến hành chất vấn
Theo truyền thống của nhiều Nghị viện, tại phiên chất vấn, cá nhân nghị sĩ có câu hỏi chất vấn được phép trình bày câu chất vấn của mình và Thủ tướng hoặc thành viên Chính phủ bị chất vấn trả lời câu hỏi chất vấn trong một khoảng thời gian nhất định (nhiều nhất là 15 phút). Sau đó, các nghị sĩ có quyền đặt câu hỏi phụ đối với vấn đề chất vấn. Các câu hỏi phụ này được các nghị sĩ gửi lên Chủ tọa của phiên chất vấn và người bị chất vấn phải trả lời ngay câu hỏi. Thông thường, Nội quy Nghị viện các nước giới hạn cho thời gian trả lời của mỗi câu hỏi phụ là 10 phút. Xét về mặt nội dung của các cuộc chất vấn, người ta có thể phân biệt ba loại chất vấn: Thứ nhất, chất vấn để quy kết trách nhiệm. Đó là các cuộc chất vấn mà trong khi thảo luận, nghị sĩ chất vấn đả kích Chính phủ, và thể hiện thái độ bất tín nhiệm của mình đối với Chính phủ.
Thứ hai, chất vấn mang tính thông tin. Trong các cuộc chất vấn này, mục đích là tìm ra những quan điểm của hành pháp về một vấn đề nào đó. Thứ ba, chất vấn mang tính khoa trương. Đây là trường hợp thường xảy ra ở các Nghị viện theo truyền thống Nghị viện Anh. Để tranh thủ uy tín cá nhân, nhiều thành viên Chính phủ đã lợi dụng thủ tục chất vấn bằng cách nhờ các nghị sĩ thân cận của mình nêu câu hỏi chất vấn để được trình bày một vấn đề nào đó trước Nghị viện.
6. Biểu quyết về kết quả chất vấn
Các cuộc chất vấn dù ở dạng nào thì kết thúc nó, Nghị viện cũng phải đưa ra ý kiến của mình. Nếu Nghị viện không đưa ra ý kiến thì thủ tục chất vấn không đạt được mục đích vốn có của nó và Nghị viện lúc này chỉ còn mang ý nghĩa hình thức trước hành pháp. Truyền thống Nghị viện nhiều nước ghi nhận có ba hình thức biểu quyết để xác định ý kiến của Nghị viện. Thứ nhất, Nghị viện biểu quyết thoả mãn về sự trả lời của Thủ tướng hoặc các thành viên của Chính phủ. Theo cách thức này, vấn đề tín nhiệm đối với Thủ tướng hoặc các thành viên của Chính phủ không phải đặt ra. Thứ hai, Nghị viện biểu quyết không thoả mãn. Với kết quả này, Nghị viện sẽ có thể đặt vấn đề bất tín nhiệm đối với Chính phủ theo chế độ trách nhiệm tập thể hoặc có thể đưa ra các khuyến nghị từ chức đối với các thành viên của Chính phủ (thông thường các thành viên này sẽ buộc phải từ chức để tránh sự sụp đổ tập thể của Chính phủ). Tuy nhiên, ở một số nước có thể chế hỗn hợp như Pháp, Italia, thì cho dù Nghị viện biểu quyết không thoả mãn thì Chính phủ cũng không bị buộc phải giải tán nhưng uy tín của họ sẽ bị giảm sút nghiêm trọng và cũng thường dẫn đến việc từ chức. Thứ ba, Nghị viện biểu quyết một cách trung dung, không bao hàm ý nghĩa tán thành hay không tán thành với câu trả lời. Trong trường hợp này, Nghị viện không thảo luận gì thêm và tiếp tục nghị trình.
Tài liệu tham khảo:
(2). John K. Johnson, Robert T. Nakamura (2011); Cristina Leston-Bandeiras và Lord Philip Norton (2005), Nghị viện – những thiết chế cơ bản, (sách dịch, Văn phòng Quốc hội và UNDP, Hà Nội).
(1). Xem Tài liệu của cơ quan thông tin Nghị viện Anh, Factsheet 46: Parliamentary question, ở website: http://www.parliament.uk