1 Sự cần thiết thành lập các cơ quan chuyên môn của Nghị viện
Mặc dù Nghị viện các nước đã thành lập hệ thống các ủy ban để giúp Nghị viện xem xét sâu về các vấn đề trong công tác lập pháp và giám sát, song nguyên tắc và thủ tục làm việc của ủy ban cũng hạn chế cơ quan này tiến hành công việc trong một số trường hợp. Ví dụ, khi xem xét sâu các vấn đề về tài chính, điều tra các vụ việc cụ thể thì nguyên tắc thảo luận tập thể và quyết định theo đa số của các thành viên có quyền ngang nhau là không thực sự phù hợp. Những công việc này đòi hỏi phải có sự tham gia của các cơ quan chuyên môn, làm việc theo nguyên tắc hành chính. Chính vì vậy, ngoài hệ thống các ủy ban, Nghị viện còn thành lập các cơ quan khác để giúp Nghị viện nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của mình, đặc biệt là công tác giám sát. Các cơ quan này sẽ xây dựng các báo cáo hoạt động và trình các báo cáo đó lên Nghị viện. Báo cáo của các cơ quan này sẽ giúp Nghị viện, đặc biệt là phe đối lập có thêm cơ sở để giám sát Chính phủ. Số lượng các cơ quan khác trực thuộc Nghị viện ở các nước khác nhau không hoàn toàn giống nhau. Có những Nghị viện thành lập rất nhiều cơ quan ví dụ như Canada.
2. Một số cơ quan chuyên môn của Nghị viện
Nghị viện nước này thành lập các cơ quan chuyên môn hoặc bổ nhiệm các chức danh trực thuộc như:
1) Trưởng văn phòng phụ trách bầu cử: tổ chức công tác bầu cử và bảo đảm các cuộc bầu cử diễn ra hợp pháp;
2) Cao uỷ phụ trách các ngôn ngữ chính thức: được lập ra từ 40 năm trước, với khoảng 200 nhân viên. Cao uỷ này có trách nhiệm bảo đảm các Bộ tuân thủ nguyên tắc về ngôn ngữ và thúc đẩy sự phát triển của ngôn ngữ;
3) Cao uỷ phụ trách về sự liêm chính công vụ: kiểm soát vấn đề tham nhũng, chi tiêu sai của cơ quan hành chính;
4) Cao uỷ xử lý xung đột lợi ích/đạo đức: Xem xét hành vi của nghị sĩ về xung đột lợi ích, buộc các nghị sĩ không được dấu giếm khi có xung đột lợi ích xảy ra;
5) Cao uỷ phụ trách về thông tin: đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của công dân;
6) Cao uỷ về quyền riêng tư: bảo vệ quyền riêng tư của công dân;
7) Tổng kiểm toán: tổng kiểm toán được bầu theo nhiệm kỳ 10 năm, phụ trách việc xem xét sổ sách của Chính phủ, kiểm tra tính hợp lý của các khoản chi. Với nhân viên khoảng 700-800 người, cơ quan kiểm toán tiến hành kiểm tra đối với 25 bộ và 60 đơn vị khác;
8) Cao uỷ về môi trường: có trách nhiệm trình báo cáo trước Nghị viện về công tác bảo vệ môi trường của Chính phủ và không có quyền kiện Chính phủ ra trước tòa án;
9) Cao uỷ vận động hành lang: tổ chức đăng ký công tác vận động hành lang;
10) Thanh tra Quốc hội phụ trách mua sắm: Là một cơ quan độc lập báo cáo lên Nghị viện về tính hợp lý trong mua sắm hàng hóa, dịch vụ của Chính phủ với mục đích là chống tham nhũng. Cơ quan này chưa có tính chính thức như các cơ quan nói trên;
11) Cao uỷ về dịch vụ công: xem xét các dịch vụ phục vụ cơ quan công quyền có phù hợp không;
12) Cao uỷ về quyền con người: xem xét vấn đề quyền con người, có quyền can thiệp vào các quyết định của tòa án bất hợp pháp, trình báo cáo lên Nghị viện về những hành vi của Chính phủ liên quan đến quyền con người. Song nhìn chung, bên cạnh hệ thống các ủy ban chuyên môn, Nghị viện các nước thường thành lập thêm các cơ quan có tính phổ biến như Thanh tra Quốc hội, Kiểm toán Quốc hội, Cơ quan phụ trách bầu cử quốc gia.
3. Thanh tra Quốc hội
Lần đầu tiên Thanh tra Quốc hội (The Parliamentary Ombudsman) được thiết lập ở Thụy Điển vào năm 1809. Xuất hiện ở Thụy Điển và trải qua quá trình dài phát triển, thuật ngữ “Ombudsman” đã đi vào văn bản Hiến pháp không chỉ của Thụy Điển mà còn của nhiều nước trên thế giới. Một số nước khác dùng những tên riêng dành cho tổ chức này như: Người chịu trách nhiệm về quyền công dân (Ba Lan), Đại diện Nghị viện về quyền công dân và quyền các dân tộc (Hungari), Cơ quan bảo vệ quyền nhân dân (Áo), Thẩm phán của nhân dân (Rumani), Thanh tra Nghị viện về công việc hành chính (Anh), Thanh tra (Pháp), Người bảo vệ nhân dân (Tây Ban Nha), Uỷ ban về quyền con người (Philippines)... Thanh tra Quốc hội là cơ quan được thành lập nhằm hỗ trợ cho hoạt động giám sát và bảo vệ quyền con người của Nghị viện. Thực tế đây là một thiết chế được giao trọng trách theo dõi để đảm bảo sao cho các cơ quan Nhà nước, trước hết là cơ quan hành pháp không xâm phạm các quyền của con người và quyền công dân. Cơ quan này xem xét các kiến nghị về những vi phạm các quyền hiến định, phân tích hiện trạng thực hiện quyền con người trong lĩnh vực cụ thể, báo cáo với Nghị viện và đề xuất các giải pháp phù hợp. Khác với Ủy ban dân nguyện, Thanh tra Quốc hội không hoạt động như một ủy ban của Nghị viện mà là một cơ quan chuyên môn gồm các chuyên gia nhiều lĩnh vực, đứng đầu là một chánh thanh tra do Nghị viện bầu theo nhiệm kỳ. Thanh tra Quốc hội không có thẩm quyền giải quyết vụ việc nhưng có quyền ban hành các phán quyết về vụ việc, trên cơ sở đó các cơ quan có thẩm quyền xem xét và ra quyết định về vụ việc. Thanh tra Quốc hội có trách nhiệm báo cáo công tác hàng năm trước Nghị viện. Nghị viện xem xét báo cáo của Thanh tra Quốc hội và có thể ra nghị quyết về một số việc liên quan tới thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc tư pháp. Nhìn chung, Thanh tra Quốc hội là cơ quan được quy định bởi Hiến pháp hoặc luật. Cơ quan này trực thuộc Nghị viện và chịu trách nhiệm trước Nghị viện về hoạt động của mình. Tuy nhiên, ở một số nước như Pháp, Anh chẳng hạn, cơ quan này lại do Chính phủ thành lập và gắn với một số hoạt động của Nghị viện.
4. Cơ quan kiểm toán
Kiểm toán là cơ quan trợ giúp Nghị viện kiểm soát việc thực hiện ngân sách Nhà nước và các luật ngân sách, cũng như theo dõi các hoạt động kinh tế-tài chính của các cơ quan Nhà nước và các thành phần kinh tế công cộng khác. Tên gọi của kiểm toán được các nước sử dụng theo các cách khác nhau. Ví dụ, ở Brazil, Tây Ban Nha, Rumani gọi là Toà án kiểm toán, còn ở Áo, Đức, Italia thì gọi là Viện kiểm toán, ở Mỹ là Văn phòng Kiểm toán. Nếu như ở Áo, Ba Lan, Viện kiểm toán trực thuộc Hạ viện, thì ở Mỹ, Tây Ban Nha kiểm toán trực thuộc Nghị viện (cả hai viện). Không phải tất cả các Hiến pháp đều quy định sự gắn kết giữa cơ quan kiểm toán và Nghị viện. Tuy nhiên, ngay cả khi đó là một cơ quan độc lập thì mối liên hệ chức năng của nó với Nghị viện vẫn tồn tại bởi vì cuối cùng thì chính Nghị viện là nơi sử dụng kết quả những hoạt động của cơ quan kiểm toán.
Thủ tục hình thành cơ quan kiểm toán ở các nước cũng khác nhau. Ở Tây Ban Nha, cả hai viện bỏ phiếu với tỷ lệ 3/5 tổng số đại biểu để chọn ra 6 cố vấn kiểm toán với nhiệm kỳ 9 năm. Họ hoạt động độc lập và không bị bãi nhiệm. Văn phòng Kiểm toán chung của Nghị viện Hoa Kỳ (GAO) có nhiệm vụ kiểm toán về ngân sách đối với các khoản chi tiêu của các cơ quan thuộc Nghị viện và của cơ quan hành pháp. Hiện nay, Văn phòng này đang chú trọng điều tra các khoản kinh phí và đưa ra các kiến nghị về việc quản lý kinh phí của Chính phủ trong các hoạt động như: quốc phòng, chính sách chống tệ nạn ma tuý, điều tra an ninh nội bộ của FBI, chương trình chăm sóc sức khoẻ và bảo hiểm y tế, chương trình chống ô nhiễm nguồn nước.... Đứng đầu Văn phòng là Chủ nhiệm Văn phòng do Tổng thống bổ nhiệm (có sự phê chuẩn của Thượng viện). Trên thực tế, Văn phòng này phục vụ cho Nghị viện nhiều hơn là cho Tổng thống.
Tuỳ theo quy định của pháp luật ở các nước, Kiểm toán có phạm vi hoạt động rộng, hẹp khác nhau. Thí dụ, ở Ba Lan, Viện giám sát Tối cao phạm vi kiểm toán khá rộng, bao gồm kiểm tra hoạt động kinh tế, tài chính và hoạt động tổ chức quản trị của các cơ quan thuộc Chính phủ, ngân hàng quốc gia, các cơ quan nhà nước, các cơ quan tự quản địa phương, các tổ chức, đơn vị kinh tế khác có liên quan đến nhà nước hoặc đơn vị tự quản địa phương. Trong quá trình kiểm tra, viện có quyền kiểm tra việc thực hiện ngân sách nhà nước, việc thực hiện luật và các văn bản pháp luật khác. Ngoài ra viện còn có nhiệm vụ giám sát việc thực hiện ngân sách, việc sử dụng tài sản, nguồn tài chính của Văn phòng Tổng thống, Văn phòng Hạ viện, Văn phòng Thượng viện, của Toà án Hiến pháp, Hội đồng phát thanh và truyền hình toàn Ba Lan, Uỷ ban bầu cử toàn Ba Lan, Toà án tối cao, Toà án hành chính cao cấp, Thanh tra nhà nước về lao động. Trong khi đó phạm vi hoạt động của Viện kiểm toán Liên bang của CHLB Đức có phần hẹp hơn. Theo Khoản 2, Điều 114 Hiến pháp, Viện kiểm toán liên bang có nhiệm vụ kiểm tra quyết toán của Chính phủ về thực hiện ngân sách, kiểm tra tính tiết kiệm và tính cân đối của hoạt động quản lý kinh tế, tài chính. Hàng năm, viện có nhiệm vụ báo cáo kết quả kiểm tra trước hai Viện. Hoạt động của viện kiểm toán mang tính chất tập thể. Mọi quyết định của viện được thực hiện trên cơ sở thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa số. Thủ tục hoạt động của viện có những nét tương tự thủ tục tố tụng.
5. Các cơ ủy ban của Quốc hội Việt Nam
Theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội, tổng số đại biểu Quốc hội không quá 500 người, bao gồm đại biểu hoạt động chuyên trách và đại biểu hoạt động không chuyên trách. Số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ít nhất là 40% tổng số đại biểu Quốc hội.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội. Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội do Chủ tịch Quốc hội làm Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội làm Phó Chủ tịch. Thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách và không đồng thời là thành viên Chính phủ.
Quốc hội thành lập các cơ quan chuyên môn gồm:
(1) Hội đồng Dân tộc.
(2) Ủy ban Pháp luật.
(3) Ủy ban Tư pháp.
(4) Ủy ban Kinh tế.
(5) Ủy ban Tài chính, Ngân sách.
(6) Ủy ban Quốc phòng và An ninh.
(7) Ủy ban Văn hoá, Giáo dục.
(8) Ủy ban Xã hội.
(9) Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường.
(10) Ủy ban Đối ngoại.
Đây là các cơ quan của Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì báo cáo công tác trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Hội đồng Dân tộc nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội về công tác dân tộc; thực hiện quyền giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật, dự án khác và báo cáo được Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội giao; thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do luật định; kiến nghị những vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của Hội đồng, Ủy ban.
Ngoài ra, Quốc hội có thể thành lập Ủy ban lâm thời để thẩm tra dự án luật, dự thảo nghị quyết hoặc báo cáo, dự án khác do Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội hoặc có nội dung liên quan đến lĩnh vực phụ trách của Hội đồng Dân tộc và nhiều Ủy ban của Quốc hội; điều tra làm rõ về một vấn đề cụ thể khi xét thấy cần thiết.