1. Vài nét về Joseph Schumpeter
Joseph Schumpeter sinh ra ở Triesch, Habsburg Moravia (nay là Třešť thuộc Cộng hòa Séc, sau đó là một phần của Áo-Hungary) vào năm 1883 với cha mẹ là người Công giáo nói tiếng Đức. Cả bố mẹ đều là người Séc. Schumpeter không thừa nhận tổ tiên người Séc của mình; ông tự cho mình là một người dân tộc Đức. Cha ông sở hữu một nhà máy, nhưng ông mất khi Joseph Schumpeter mới bốn tuổi. Năm 1893, Joseph Schumpeter và mẹ chuyển đến Vienna. Joseph Schumpeter là người ủng hộ trung thành của Franz Joseph I người Áo.
Sau khi đi học tại Theresianum, Joseph Schumpeter bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu luật tại Đại học Vienna dưới sự chỉ đạo của nhà lý thuyết thủ đô người Áo - Eugen von Böhm-Bawerk, lấy bằng tiến sĩ năm 1906. Năm 1909, sau một số chuyến đi nghiên cứu, ông trở thành giáo sư kinh tế và chính phủ tại Đại học Czernowitz ở Ukraine ngày nay. Năm 1911, ông gia nhập Đại học Graz, nơi ông ở lại cho đến Thế chiến thứ nhất.
2. Sự nghiệp
Năm 1918, Joseph Schumpeter là thành viên của Ủy ban Xã hội hóa do Hội đồng Đại biểu Nhân dân Đức thành lập. Tháng 3 năm 1919, ông được mời nhận chức Bộ trưởng Bộ Tài chính tại Cộng hòa Đức-Áo. Ông đề xuất đánh thuế vốn như một cách để giải quyết nợ chiến tranh và phản đối việc xã hội hóa nhà máy trên núi Alpine. Năm 1921, ông trở thành chủ tịch của Ngân hàng Biedermann tư nhân. Ông cũng là thành viên hội đồng quản trị của Ngân hàng Kaufmann. Các vấn đề tại các ngân hàng đó khiến Schumpeter nợ nần chồng chất. Việc từ chức của ông là một điều kiện của việc tiếp quản Ngân hàng Biedermann vào tháng 9 năm 1924.
Từ năm 1925 đến năm 1932, Joseph Schumpeter giữ chức vụ chủ tịch tại Đại học Bonn, Đức. Ông giảng dạy tại Harvard vào các năm 1927–1928 và 1930. Năm 1931, ông là giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Thương mại Tokyo. Năm 1932, Schumpeter chuyển đến Hoa Kỳ, và nhanh chóng bắt đầu những gì sẽ trở thành nỗ lực sâu rộng để giúp các đồng nghiệp kinh tế học ở Trung Âu bị chủ nghĩa Quốc xã thay thế. Schumpeter cũng nổi tiếng vì phản đối chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa xã hội mà ông cho rằng sẽ dẫn đến chế độ độc tài, và thậm chí còn chỉ trích Chính sách mới của Tổng thống Franklin Roosevelt. Năm 1939, Schumpeter trở thành công dân Hoa Kỳ. Trong đầu của Chiến tranh thế giới thứ hai, FBI đã điều tra ông và vợ ông, Elizabeth Boody (một học giả nổi tiếng về kinh tế học Nhật Bản) vì có khuynh hướng ủng hộ Đức Quốc xã, nhưng không tìm thấy bằng chứng nào về sự đồng tình của Đức Quốc xã.
3. Tại Đại học Harvard
Tại Harvard, Joseph Schumpeter coi là một nhân vật đáng nhớ, uyên bác và thậm chí là hào hoa trong lớp học. Ông được biết đến với khối lượng giảng dạy nặng nề và sự quan tâm cá nhân và chăm chỉ đối với học sinh của mình. Ông từng là cố vấn giảng dạy của Câu lạc bộ Kinh tế Sau đại học và tổ chức các hội thảo và nhóm thảo luận riêng. Một số đồng nghiệp cho rằng quan điểm của ông đã lỗi thời so với chủ nghĩa Keynes vốn là thời thượng; những người khác phẫn nộ với những lời chỉ trích của ông, đặc biệt là việc họ không đề nghị phong hàm trợ lý giáo sư cho Paul Samuelson, nhưng lại từ chối khi họ nghĩ rằng ông có khả năng nhận một vị trí tại Đại học Yale. Giai đoạn này của cuộc đời ông được đặc trưng bởi sự làm việc chăm chỉ và tương đối ít được công nhận về cuốn sách Chu kỳ kinh doanh 2 tập đồ sộ của ông. Tuy nhiên, Joseph Schumpeter vẫn kiên trì, và vào năm 1942 đã xuất bản tác phẩm trở nên phổ biến nhất trong tất cả các tác phẩm của ông, Chủ nghĩa tư bản, Chủ nghĩa xã hội và dân chủ, được tái bản nhiều lần và bằng nhiều ngôn ngữ trong những thập kỷ tiếp theo, cũng như được trích dẫn hàng nghìn lần.
4. Chu kỳ kinh doanh
Joseph Schumpeter nhấn mạnh nhà doanh nghiệp như tác nhân chủ động đối với sự thay đổi trong một nền kinh tế cạnh tranh tạo ra chiếc cầu nối giữa Kinh tế Vĩ mô của doanh nghiệp với Kinh tế vĩ mô trong chính sách của chính phủ. Trong khuôn khổ của Schumpeter, cơ học truyền động thông qua đó để thuế và chính sách chi tiêu tác động đến hành vi kinh tế là tác động sau cùng mà những chính sách như thê tác động lên động cơ cá nhân. Lại một lần nữa, nhà doanh nghiệp là tâm điểm. Viện dẫn kinh nghiệm của nền kinh tế Mỹ trong những năm 1920, Schumpeter nêu ra vấn đề liệu thuế có tác động đáng kể đến động cơ lợi nhuận và tiến bộ kinh tế hay không. Mỹ khởi đầu đánh thuế thu nhập liên bang năm 1913, vì thế vấn đề tỏ ra hợp thời trong những năm 1920. Schumpeter đánh giá ảnh hưởng của thuế thu nhập lũy tiến lên chức năng doanh nghiệp:
“Bất cứ thuế nào đánh vào thu nhập ròng đều có khuynh hướng thay đổi cán cân lựa chọn giữa “nên làm hay không” đối với một vấn đề nhất định. Nếu thu nhập ròng sắp tới là một triệu chỉ đủ để làm mất thăng bằng rủi ro và những phản hiệu dụng khác, khi đó một triệu sắp tới bị trừ thuế sẽ không còn như thế, và điều này đúng với giao dịch đơn giản như nằm trong một loạt giao dịch và sự mở rộng một doanh nghiệp cũ hay nền móng một doanh nghiệp mới. Quản trị kinh doanh và xí nghiệp... do sự duy trì của nó phải phụ thuộc, ít nhất trong dài hạn, vào sự chuyển giao thực tế, trong trường hợp thành công, phần thưởng mà sơ đồ hoạt động ấy đưa ra, vì thế, thuế chỉ đánh hơn 1% cũng làm thay đổi rất đáng kế' như đôi với thời gian và địa điểm làm cho động cơ lợi nhuận bị cùn đi”. (Business Cycles, trang 291-292).
Theo cách đào tạo ở Áo, Joseph Schumpeter luôn chú ý đến quá trình cạnh tranh, tình trạng rối rắm trong hoạt động kinh tế bao gồm quyết định cá nhân trên cơ sở không chế các động cơ kinh tế. Schumpeter bảo lưu quan điểm của người Áo về Kinh tế Vĩ mô, nghĩa là quan tâm đến tổng hợp, đến phiên nó tượng trưng kết quả tập thể của quyết định cá nhân. Quan hệ nhân quả chuyển từ cá nhân sang tập thể, như Menger đã bảo, không hề có đường nào khác. Có vô số tác động định chế thúc đẩy hay làm nản chí tăng trưởng kinh tế, nhưng là một tác động quan trọng, theo nhận định của Schumpeter, nằm trong chính sách tài chính “không phương hại” bao gồm mức thuế thấp và/hoặc giảm dần. Theo cách nói của chính quyền Reagan, Schumpeter là một “nhà kinh tế học Trọng cung” đầu tiên.
Ảnh hưởng của Schumpeter trong lý thuyết phát triển kinh tế rất lớn, ngay cả trong số những nhà kinh tế học ngày nay thẳng thừng phủ nhận lý thuyết của ông. Trong số các nhà kinh tế học, nhất là những người thiếu hiểu biết lịch sử, thuật ngữ “nhà doanh nghiệp” hầu như trở thành đồng nghĩa với tên Schumpeter. Khi lý thuyết thay đổi kinh tế được thừa nhận, thì phân tích của Schumpeter chiếm vị trí trung bình giữa Marshall và Max Weber. Lý thuyết của Marshall ngày càng chuyển sang các hàm lựa chọn và sản xuất, kết quả vẫn là sự cải thiện liên tục trong chất lượng luân lý, sở thích và kỹ thuật kinh tế. Khiếm khuyết ở chỗ không giải thích chu kỳ kinh doanh, một khiếm khuyết được học trò của Marshall là Keynes bù đắp. Tiếp cận của Marshall cũng ngụ ý lý thuyết tiến bộ đơn tuyến, lý thuyết Schumpeter phủ nhận. Lý thuyết của Weber phát triển tập hợp các bắt buộc luân lý và sử dụng chúng giải thích sự quá độ kinh tế, xã hội nhanh chóng nhấn mạnh những giai đoạn dài trong sự liên tục lịch sử. Schumpeter đặt thành định đề khả năng xảy ra đổi mới và làn sóng thích nghi liên tục đơn thuần là vì nhà doanh nghiệp luôn có mặt và là một lực lượng muốn thay đổi.
Sức lôi cuốn trong lý thuyết phát triển kinh tế của Schumpeter là sự giản dị và dế hiểu, được thể hiện rõ trong phát biểu của Schumpeter:
“Việc thực hiện kết hợp mới mà chúng gọi là “xí nghiệp”, cá nhân với chức năng của mình là phải thực hiện chúng thì chúng ta gọi là “nhà doanh nghiệp”. (Economic Development, trang 74).
Thế nhưng bất kể tầm quan trọng trong đóng góp phát triển kinh tế của Schumpeter, thì tiếp cận động học và quan điểm chính thể luận trong hoạt động kinh tế của ông vẫn không chiếm Ưu thế trong phân tích kinh tế. Kinh tế học quy ước phần lớn hoạt động bằng chuyên môn hóa tri thức và phân công lao động.
5. Thuyết dân chủ
Trong cùng một cuốn sách, Schumpeter đã giải thích một lý thuyết về dân chủ tìm cách thách thức cái mà ông gọi là "học thuyết cổ điển". Ông phản bác ý kiến cho rằng dân chủ là một quá trình mà cử tri xác định lợi ích chung, và các chính trị gia thực hiện điều này vì họ. Ông cho rằng điều này là không thực tế, và sự thiếu hiểu biết và hời hợt của mọi người có nghĩa là trên thực tế, họ đã bị thao túng phần lớn bởi các chính trị gia, những người đặt ra chương trình nghị sự. Hơn nữa, ông tuyên bố rằng ngay cả khi lợi ích chung có thể được tìm thấy, nó vẫn sẽ không làm rõ các phương tiện cần thiết để đạt được mục đích của nó, vì người dân không có kiến thức cần thiết để thiết kế chính sách của chính phủ. Điều này làm cho một khái niệm 'quy tắc của người dân' vừa khó vừa không mong muốn. Thay vào đó, ông ủng hộ một mô hình tối giản,, theo đó dân chủ là cơ chế cạnh tranh giữa các nhà lãnh đạo, giống như một cấu trúc thị trường. Mặc dù các cuộc bỏ phiếu định kỳ của công chúng hợp pháp hóa các chính phủ và giữ cho họ có trách nhiệm giải trình, chương trình chính sách được coi là của chính họ chứ không phải của người dân và vai trò tham gia của các cá nhân thường bị hạn chế nghiêm trọng.
Schumpeter định nghĩa dân chủ là phương pháp mà mọi người bầu ra đại diện trong các cuộc bầu cử cạnh tranh để thực hiện ý chí của họ. Định nghĩa này đã được mô tả là đơn giản, tao nhã và phức tạp, làm cho nó trở nên rõ ràng hơn để phân biệt các hệ thống chính trị đáp ứng hoặc không đáp ứng các đặc điểm này. Định nghĩa tối giản này trái ngược với các định nghĩa rộng hơn về dân chủ, có thể nhấn mạnh các khía cạnh như "đại diện, trách nhiệm giải trình, bình đẳng, tham gia, công bằng, nhân phẩm, hợp lý, an ninh, tự do". Trong một định nghĩa tối giản như vậy, các tuyên bố mà các học giả khác cho rằng đã trải qua sự trượt dốc của nền dân chủ và những quốc gia thiếu tự do dân sự, báo chí tự do, pháp quyền và một cơ quan hành pháp bị hạn chế, vẫn sẽ được coi là các nền dân chủ. Đối với Schumpeter, việc thành lập chính phủ là điểm cuối của quá trình dân chủ, có nghĩa là vì mục đích lý thuyết dân chủ của mình, ông không có bình luận gì về những loại quyết định mà chính phủ có thể thực hiện. để trở thành một nền dân chủ. Schumpeter phải đối mặt với sự phản đối về lý thuyết của mình từ các nhà lý thuyết dân chủ khác, chẳng hạn như Robert Dahl, người đã lập luận rằng có nhiều điều đối với nền dân chủ hơn là chỉ đơn giản là hình thành chính phủ thông qua các cuộc bầu cử cạnh tranh.
Quan điểm của Schumpeter về nền dân chủ được mô tả là "tinh hoa", vì ông chỉ trích tính hợp lý và kiến thức của cử tri, đồng thời bày tỏ sự ưa thích các chính trị gia đưa ra quyết định. Vì vậy, dân chủ theo một nghĩa nào đó là một phương tiện để đảm bảo sự lưu thông giữa các tầng lớp. Tuy nhiên, các nghiên cứu của Natasha Piano (thuộc Đại học Chicago) nhấn mạnh rằng Schumpeter có thái độ coi thường giới tinh hoa.
LUẬT MINH kHUÊ (Sưu tầm)