1. Jrgen Habermas triển khai khái niệm không gian công cộng

Trong tác phẩm nổi tiếng The structural transformation of the public sphere xuất bản năm 1962, triết gia nhà xã hội học nổi tiếng người Đức, người được xem là một trong những nhà triết học có ảnh hưởng lớn nhất thế giới của thế kỷ XX, Jrgen Habermas đã triển khai khái niệm không gian công cộng mà Emmanuel Kant, người được coi là tác giả của thuật ngữ này, đã đề cập vào năm 1784.

Mặc dù khái niệm không gian công cộng thường không được ghi nhận trong các từ điển, nhưng không gian công cộng lại luôn là trung tâm của nền dân chủ. Không gian công cộng được định nghĩa như là một môi trường trung gian giữa xã hội dân sự và nhà nước. Đó là nơi tất cả mọi công dân đều có thể tiếp cận, nơi mà mọi người tụ tập, gặp nhau để đưa ra ý kiến công khai. Những trao đổi mang tính tranh luận về các vấn đề lợi ích chung và cho phép đưa ra những ý kiến công khai. Việc công khai này là một phương tiện để công dân gây áp lực đối với quyền lực nhà nước.

Theo J.Harbemas, không gian công cộng là nơi để hình thành nên công luận, bất kỳ ai cũng có thể tham gia vào không gian công cộng và trao đổi ý kiến với người khác mà không phải chịu áp lực từ bên ngoài. Và vì thế, không gian công cộng là một trong những điều kiện để thiết lập nền dân chủ.

2. Không gian công cộng như một khoảng không gian mang tính ảo hoặc tưởng tượng

J. Harbemas định nghĩa không gian công cộng như một khoảng không gian mang tính ảo hoặc tưởng tượng. Đó là một không gian mang tính biểu tượng, nơi mà các bài phát biểu được trao đổi, được tranh luận và vì thế không gian công cộng được tạo nên bởi các nhân tố khác nhau về chính trị, xã hội, tôn giáo, văn hoá, trí tuệ và vì thế nó tạo nên sự đa dạng của xã hội. Trong hình thức lý tưởng nhất của nó, không gian công cộng tạo nên một nhóm người tập hợp lại với nhau như một tập hợp công chúng và nối liền các nhu cầu của xã hội với nhà nước. Thông qua hoạt động của một đám đông và những cuộc đối thoại, không gian công cộng làm nảy sinh các ý kiến và thái độ mà nó có vai trò phải gợi ra hoặc dẫn dắt cho các hoạt động của nhà nước. Bằng thuật ngữ lý tưởng nhất, không gian công cộng là nguồn của các ý tưởng cộng đồng cần thiết để hợp pháp hóa quyền lực dưới bất kỳ hoạt động dân chủ nào.

Các câu hỏi như: “Công cộng hay tính công là gì và loại quyền lực nào mà nó có trong dân chủ đại diện? Làm thế nào để các ý tưởng cộng đồng có thể định hướng được quyền lực chính trị và chính sách? Hệ thống quyền lực chính trị được gìn giữ như thế nào trong một nền dân chủ? Các câu hỏi này là trung tâm trong luận thuyết của J. Habermas.

Vì không gian công cộng là một không gian biểu tượng nên nó đòi hỏi phải có thời gian để vận hành, để được công nhận và thu hút các vấn đề tranh luận và thảo luận công khai. Người ta không ra sắc lệnh để thành lập ra một không gian công cộng như là người ta tổ chức các cuộc bầu cử hay các cuộc trưng cầu dân ý mà người ta ghi nhận sự tồn tại của nó. Không gian công cộng là biểu tượng cho một thực tế về một nền dân chủ đang hoạt động. Không gian công cộng tạo nên một mối liên hệ chính trị, nối liền hàng triệu công dân vô danh, bằng cách trao cho họ những mong muốn về việc tham gia một cách có hiệu quả vào chính trị. Đôi khi, không gian công cộng đã trở thành một từ rất mốt vì người ta coi không gian công cộng cũng như là kết quả của phong trào giải phóng con người, đóng góp vào việc gia tăng giá trị cho tự do cá nhân.

3. Không gian cộng đồng, không gian công cộng

Nhìn lại quá trình phát triển của không gian công cộng ở châu Âu, người ta nhận thấy cần phải phân biệt giữa không gian cộng đồng, không gian công cộng và không gian chính trị.

Không gian cộng đồng là không gian có đầu tiên. Nó được bắt đầu từ các trao đổi mang tính thương mại. Với thực tế được chứng minh thông qua hoạt động thương mại ở thành Venice, các hội buôn và trước đó là những người Acmêni, những người ở khu vực Trung Á và ỏ các nơi khác, rằng không chỉ có hàng hoá và dịch vụ được trao đổi, mà còn có các dấu hiệu, các biểu tượng đã được trao đổi để khỏa lấp đi sự bất đồng về ngôn ngữ. Những thứ này dần dần tạo nên một không gian thân mật, thậm chí cả an toàn trong thương mại. Từ cộng đồng xuất hiện vào thế kỷ XIX, đến từ gốc từ latinh là communis, và nó gắn liền với ý tưởng mang tính chung và cộng đồng. Một không gian cộng đồng vừa đồng thời là không gian thực tế, được giới hạn bởi lãnh thổ, nhưng cũng là một không gian biểu tượng, đó là mạng lưới mang tính đoàn kết.

Không gian công cộng khởi đầu vối không gian thực tế, đó là đường phố, quảng trường, đồng thời cũng là thương mại và trao đổi. Đó chỉ là những bước đầu, bắt đầu từ thế kỷ XVI và XVII, khi mà không gian thực tế trở thành không gian biểu tượng với sự công nhận dần dần về vị trí của cá nhân đối với chế độ quân chủ và tăng lữ. Phong trào này diễn ra trong hai thế kỷ. Trên thực tế, việc định nghĩa lại về tính tư cho phép không gian công cộng được hình thành và khẳng định. Từ công cộng xuất hiện vào thế kỷ thứ XIV, từ gốc latinh Publicus, có nghĩa là tất cả mọi người. Công cộng gợi đến công khai hay xuất bản, đến từ gốc từ latinh là Publicare. Không gian công cộng được xem là sự mở rộng của không gian cộng đồng và nó gần gũi với tất cả mọi người hơn. Trong bước chuyển từ cộng đồng sang công cộng, không gian công cộng trong bước tiếp theo đã trở thành đặc trưng của nền dân chủ, bổ sung cho nguyên tắc tự do.

4. Văn hóa "đại diện"

Trong The structural transformation of the public sphere, Habermas lập luận rằng trước thế kỷ 18, văn hóa châu Âu đã bị thống trị bởi một nền văn hóa "đại diện", nơi một bên tìm cách "đại diện" cho khán giả của mình bằng cách áp đảo các đối tượng của mình. Như một ví dụ về văn hóa "tượng trưng", Habermas cho rằng Louis XIV của Cung điện Versailles đã có nghĩa là để cho thấy sự vĩ đại của nhà nước Pháp và vua của nó bằng cách áp đảo các giác quan của du khách đến Palace. Habermas xác định văn hóa "đại diện" là tương ứng với giai đoạn phát triển phong kiến ​​theo lý thuyết của chủ nghĩa Mác, cho rằng sự xuất hiện của giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa đánh dấu sự xuất hiện của Öffentlichkeit (lĩnh vực công cộng). Trong nền văn hóa được đặc trưng bởi Öffentlichkeit , đã có một không gian công cộng nằm ngoài sự kiểm soát của nhà nước, nơi các cá nhân trao đổi quan điểm và kiến ​​thức.

Theo quan điểm của Habermas, sự phát triển của báo, tạp chí , câu lạc bộ đọc sách, nhà nghỉ Masonic và quán cà phê ở châu Âu thế kỷ 18, tất cả theo những cách khác nhau, đánh dấu sự thay thế dần dần của văn hóa "đại diện" bằng văn hóa Öffentlichkeit. Habermas cho rằng đặc điểm cốt yếu của văn hóa Öffentlichkeit là tính chất "phê phán" của nó. Không giống như văn hóa "đại diện" nơi chỉ có một bên chủ động và bên kia thụ động, văn hóa Öffentlichkeit được đặc trưng bởi một cuộc đối thoại khi các cá nhân gặp nhau trong cuộc trò chuyện hoặc trao đổi quan điểm qua các phương tiện in ấn. Habermas khẳng định rằng vì Anh là quốc gia tự do nhất ở châu Âu, nên văn hóa của khu vực công cộng xuất hiện ở đó lần đầu tiên vào khoảng năm 1700, và sự phát triển của văn hóa Öffentlichkeit diễn ra trong phần lớn thế kỷ 18 ở Lục địa Châu Âu. Theo quan điểm của ông, Cách mạng Pháp một phần lớn là do sự sụp đổ của văn hóa "đại diện" và sự thay thế của nó là văn hóa Öffentlichkeit. Mặc dù mối quan tâm chính của Habermas trong Sự chuyển đổi cấu trúc của Không gian công cộng là phơi bày những gì ông coi là bản chất lừa đảo của các thể chế tự do ở phương Tây, cuốn sách của ông đã có ảnh hưởng lớn đến lịch sử Cách mạng Pháp.

5. Các yếu tố dẫn đến sự suy thoái cuối cùng của phạm vi công chúng

Theo Habermas, một loạt các yếu tố dẫn đến sự suy thoái cuối cùng của phạm vi công chúng, bao gồm sự phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng thương mại, biến công chúng phê bình thành công chúng tiêu dùng thụ động; và nhà nước phúc lợi, đã sáp nhập nhà nước với xã hội một cách triệt để đến mức khu vực công bị vắt kiệt. Nó cũng biến "khu vực công" thành một địa điểm tranh giành lợi ích cho bản thân đối với các nguồn lực của nhà nước hơn là một không gian cho sự phát triển của sự đồng thuận hợp lý của công chúng .

Tác phẩm được biết đến nhiều nhất của ông cho đến nay, Lý thuyết về hành động giao tiếp (1981), dựa trên bản chuyển thể của Talcott Parsons AGIL Paradigm. Trong tác phẩm này, Habermas lên tiếng chỉ trích quá trình hiện đại hóa, mà ông cho là hướng đi không linh hoạt bị buộc phải thông qua bởi sự hợp lý hóa kinh tế và hành chính. Habermas đã phác thảo cách thức cuộc sống hàng ngày của chúng ta bị xâm nhập bởi các hệ thống chính thức song song với sự phát triển của nhà nước phúc lợi , chủ nghĩa tư bản doanh nghiệp và tiêu dùng đại chúng. Những xu hướng củng cố này hợp lý hóa đời sống công cộng. Việc tước quyền công dân xảy ra khi các đảng phái chính trị và các nhóm lợi ích trở nên hợp lý hóa và dân chủ đại diện thay thế dân chủ có sự tham gia. Do đó, ranh giới giữa công và tư, cá nhân và xã hội, hệ thống và thế giới sống đang xấu đi. Đời sống công cộng dân chủ không thể phát triển khi các vấn đề quan trọng của công chúng không được công dân thảo luận. Một " tình huống diễn thuyết lý tưởng " đòi hỏi người tham gia phải có cùng năng lực diễn ngôn, bình đẳng xã hội và lời nói của họ không bị nhầm lẫn bởi ý thức hệ hoặc các lỗi khác. Trong phiên bản này của lý thuyết đồng thuận về chân lý Habermas khẳng định rằng sự thật là những gì sẽ được thỏa thuận trong một tình huống diễn thuyết lý tưởng.

Habermas đã bày tỏ sự lạc quan về khả năng hồi sinh của khu vực công cộng. Ông nhận thấy hy vọng về tương lai nơi quốc gia - dân chủ đại diện dựa vào dân chủ được thay thế bằng một tổ chức chính trị tuân thủ dân chủ có chủ đích dựa trên các quyền và nghĩa vụ bình đẳng của công dân. Trong một hệ thống dân chủ trực tiếp hướng tới như vậy, khu vực công của các nhà hoạt động là cần thiết cho các cuộc tranh luận về các vấn đề có tầm quan trọng của cộng đồng cũng như cơ chế để cuộc thảo luận đó ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định.


LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)